Sunday, November 3, 2013

Sỏi tiết niệu

THẾ NÀO LÀ SỎI TIẾT NIỆU ?
- Sỏi tiết niệu là sỏi nằm ở các cơ quan thuộc hệ tiết niệu (bao gồm sỏi thận, niệu quản, bàng
quang, niệu đạo…). Đây là tình trạng bệnh lý đã được đề cập đến từ rất lâu trong y văn và là
một bệnh thường gặp, dễ gây biến chứng như nhiễm trùng, suy thận cấp hoặc mạn tính.

- Nam giới có tỷ lệ mắc cao hơn nữ từ 2-3 lần. Sỏi gặp nhiều ở người trưởng thành hơn là ở trẻ
em và người già.
- Những người sinh sống ở những nơi khí hậu nóng và khô cằn tỷ lệ mắc sỏi cao hơn.


CÁC YẾU TỐ NÀO THUẬN LỢI CHO QUÁ TRÌNH TẠO SỎI ?

- Sỏi tiết niệu do nhiều nguyên nhân và nhiều yếu tố phức tạp gây nên. Quá trình hình thành sỏi thường
bắt nguồn từ các muối khoáng hòa tan trong nước tiểu. Khi có những rối loạn về mặt sinh lý bệnh học và
có những yếu tố thận lợi như giảm lưu lượng nước tiểu, nhiễm khuẩn tiết niệu, dị dạng đường tiết niệu
hoặc có yếu tố di truyền thì các muối khoáng hòa tan sẽ kết tinh từ một nhân nhỏ rồi lớn dần thành sỏi.
 


Một số yếu tố thuận lợi thúc đẩy quá trình hình thành sỏi

- Urate, cystine, pH nước tiểu thấp, uống ít nước, một số sản phẩm chuyển hóa của vi khuẩn hoặc các
nguyên nhân dẫn đến cô đặc nước tiểu là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình hình thành
sỏi. Khẩu phần ăn có nhiều oxalate cũng là một yếu tố thuận lợi.Tuy nhiên vai trò của ăn thức ăn có nhiều
canxi gây tăng nguy cơ hình thành sỏi là không rõ ràng. Ngày nay việc hạn chế canxi trong khẩu phần ăn
không còn là phương pháp hiệu quả để ngăn ngừa sỏi thận tiết niệu.

- Một số loại thuốc như Acetazolamide (Diamox), thuốc lợi tiểu quai, Glucocorticoids, Theophyline,
Vitamin D và C là những tác nhân thúc đẩy quá trình hình thành sỏi  canxi.

- Lợi tiểu nhóm Thiazides, Salicylate, Probenecid, Allopurinol là những tác nhân thúc đẩy quá trình hình
thành tạo sỏi axit uric. Khi dùng thuốc như Triamterine, Acyclovir, Indinavir các thuốc này sẽ lắng đọng
lên sỏi đã hình thành và làm sỏi phát triển nhanh và to hơn.

2. Một số loại sỏi hay gặp và quá trình hình thành sỏi

2.1. Sỏi Canxi:

- Nguyên nhân chính là tình trạng nước tiểu bị quá bão hòa về muối canxi do tăng hấp thu canxi ở ruột
hoặc tăng tái hấp thu canxi ở ống thận. Xét nghiệm nước tiểu sẽ thấy canxi niệu tăng rất cao. Bình thường
thận đào thải khoảng 300 mg canxi qua nước tiểu trong 1 ngày, trong trường hợp nước tiểu bị quá bão
hòa về muối canxi lượng canxi đào thải qua nước tiểu có thể tăng lên 800-1000mg/24h với chế độ ăn
bình thường.

- Nguyên nhân thứ 2 là giảm citrat niệu. Citrat niệu có tác dụng ức chế kết tinh các muối canxi. Khi có
toan máu, nhiễm khuẩn tiết niệu, hạ Kali máu thì thường citrat niệu giảm. Khi thiếu citrat nước tiểu sẽ bão
hòa muối canxi tạo điều kiện kết tinh sỏi.

- Nguyên nhân thứ 3 là nước tiểu quá bão hòa về Oxalat. Thức ăn chứa nhiều oxalat như rau chút chít,
đại hoàng hoặc trong trường hợp ngộ độc vitamin C sẽ dẫn đến tình trạng này. Ở người bị viêm ruột, cắt
một phần ruột non cũng thường thấy tăng oxalat niệu và có sỏi oxalat, những người có rối loạn hệ thống
men chuyển hóa ở gan do di truyền gây tăng bài xuất acid oxalic để tạo thành oxalat cũng dễ có sỏi
oxalat.

2.3. Sỏi acid uric:

- Nguyên nhân là do nước tiểu quá bão hòa acid uric tạo điều kiện gây sỏi urat  và thường có tăng acid
uric niệu đi kèm. Sỏi acid uric gặp trong tăng acid uric máu, bệnh goutte, trong một số trường hợp
di truyền.

2.4. Sỏi struvit:

- Sỏi struvit là do nhiễm khuẩn lâu dài đường tiết niệu, vi khuẩn giải phóng men urease, men này phân giải
ure gây tổng hợp ammoniac trong nước tiểu giảm, dẫn tới làm giảm hòa tan struvit (MgNH4PO46H2O)
tạo điều kiện hình thành sỏi.

2.5. Sỏi cystin:

- Sỏi cystin là do cystin bị đào thải nhiều qua thận nhưng ít hòa tan nên dễ đọng thành sỏi.

SỎI TIẾT NIỆU GÂY RA NHỮNG HẬU QUẢ GÌ ?

- Sỏi tiết niệu thường xuất hiện ở nơi có dòng nước tiểu yếu hoặc đường tiểu quá nhỏ, uốn khúc, bị hẹp
hay tắc nghẽn, do đó những vị trí có sỏi thường là thận, niệu quản chậu hoặc sát bàng quang, cổ bàng
quang, niệu đạo, lỗ sáo. Sự di chuyển của sỏi, nhất là những sỏi có gai nhọn sẽ cọ xát vào đường niệu
gây ra những cơn đau lưng, đái ra máu  nếu sỏi ở thận, niệu quản.

- Sỏi tại bàng quang, niệu đạo sẽ gây đái buốt, đái rắt, đái khó.

- Nếu sỏi bị kẹt trong đài thận, sỏi sẽ chèn ép làm bế tắc đài thận nên đài thận giãn, lâu dần thận sẽ giãn
mỏng như một túi nước. Khi các đài thận bị ứ nước tiểu, sẽ tạo ra áp lực cao tác động vào thần kinh
thận và vỏ thận gây ra cơn đau quặn thận.

- Khi sỏi cọ xát vào đường niệu thì nguy cơ niêm mạc bị phù nề, viêm, là điều kiện tốt cho vi khuẩn xâm
nhập gây viêm nhiễm đường tiểu. Người bệnh sẽ thấy đau lưng, đái buốt, đái rắt, đái đục.

- Nếu sỏi gây nhiễm khuẩn nặng sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như suy thận. Nếu thận ứ mủ 
 nhiều giãn to đài bể thận có thể phải cắt bỏ thận.

- Tắc nghẽn đường tiểu làm tồn đọng nước tiểu gây viêm nhiễm lâu ngày sẽ dẫn đến xơ hóa thành đường
tiểu kể cả đài thận.

- Viêm nhiễm nặng ở đường tiểu còn làm hoại tử đường tiểu, xuất hiện các lỗ rò ở bàng quang, niệu quản.
Sự hiện diện lâu ngày của sỏi hai bên niệu quản hay sỏi thận một bên còn bên kia sỏi niệu còn dẫn đến
hiện tượng vô niệu (không có nước tiểu). Chức năng thận sẽ bị giảm nếu có  sỏi ở hai bên thận, nhất là
khi có sự kết hợp của viêm nhiễm gây ra suy thận cấp hoặc mạn tính.


CHẨN ĐOÁN SỎI TIẾT NIỆU NHƯ THẾ NÀO ?

- Nơi sỏi trú ngụ, đường tiết niệu bị kích thích đưa đến co thắt, … gây tăng áp lực đột ngột ở đài – bể
thận làm nên các cơn đau quặn thận . Đầu tiên chỉ đau ê ẩm vùng thắt lưng, đau tăng lên khi vận động
nặng, đi đường dài, đạp xe…

Những dấu hiệu của cơn đau quặn thận

- Đau: Tính chất đau dữ dội, mãnh liệt, cảm giác bị co thắt bên trong, lăn lộn, không nằm ở tư thế nào
để giảm đau, nôn và buồn nôn. Vị trí: Vùng hố sườn lưng 1 bên hay 2 bên cả vùng hạ sườn. Tức nói khi
vỗ vào hố lưng, có thể sờ thấy thận nếu to, chạm thận-bập bềnh thận dương tính. Hướng lan: Từ hố thắt
lưng lan xuống dưới hoặc ra phía trước đến hố chậu rồi bộ phận sinh dục ngoài và mặt trong đùi.

- Tiểu tiện: Tiểu máu, sau cơn đau quặn thận, máu toàn bãi, thường tái phát khi bệnh nhân rung chuyển
nhiều và mạnh, đỡ dần khi nghỉ ngơi. Ngoài máu có thể tiểu ra mủ (dấu hiệu cần nghĩ đến sỏi thận), tiểu
buốt hay gắt (nếu viêm đài – bể thận).

- Sốt: Sốt cao, rét run nếu có viêm đài – bể thận.

Xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh
-  Nhằm mục đích chẩn đoán xác định sỏi, chẩn đoán biến chứng do sỏi gây ra và tìm nguyên nhân thuận lợi tạo sỏi.

-  Cần biết lựa chọn từng phương pháp từ đơn giản đến phức tạp phù hợp với từng trường hợp.

- Để chắc chắn cần xét nghiệm nước tiểu: Tìm các tinh thể (calci oxalat hay phosphat, acid uric,
citrat, magnesium…), đo pH, cấy nước tiểu. Siêu âm, chụp thận UIV, UPR hay không chuẩn bị

- Xét nghiệm máu: Định lượng hormon tuyến cận giáp, công thức máu…

- Lựa chọn phương pháp thăm dò nào do bác sĩ khám và quyết định


NGƯỜI CÓ SỎI TIẾT NIỆU KHI NÀO CẦN VÀO VIỆN CẤP CỨU ?

Bệnh nhân cần được vào viện ngay khi được chẩn đoán có 1 trong các tình trạng dưới đây:

- Ứ mủ bể thận do sỏi bể thận hoặc niệu quản.

- Vô niệu - suy thận do tắc nghẽn niệu quản 2 bên hoặc 1 bên ở thận duy nhất còn chức năng.

- Bệnh nhân không có khả năng uống thuốc do bị nôn dai dẳng, suy kiệt, hoăc cao tuổi hay những bệnh
nhân đau dữ dội nhưng không đáp ứng với các thuốc giảm đau thông  thường.

- Đái máu đại thể liên tục

- Suy thận mạn giai đoạn cuối do sỏi

XỬ TRÍ SỎI TIẾT NIỆU RA SAO?

- Chính vì những biến chứng nguy hiểm mà sỏi thận gây ra nên có  những trường hợp cần can thiệp cấp
cứu để lấy sỏi ngay, có trường hợp có thể trì hoãn lấy sỏi nghĩa là can thiệp lấy sỏi chủ động theo lịch
như mổ lấy sỏi hoặc tán sỏi. Có trường hợp không cần can thiệp gì đối với sỏi nhỏ không gây các biến
chứng đau nhiều, đái  ra máu hoặc gây biến chứng viêm nhiễm ở thận.

- Sỏi thận tiết niệu là một bệnh lý phức tạp, thường gây ra nhiều biến chứng. Vì vậy khi phát hiện ra sỏi
thận tiết niệu, bệnh nhân nên đến ngay với bác sĩ chuyên khoa thận tiết niệu để được tư vấn và có biện
pháp điều trị phù hợp.

Lựa chọn phương pháp điều trị sỏi tiết niệu

- Sau khi loại trừ các trường hợp khẩn cấp kể trên và khống chế được cơn đau do sỏi tiết niệu gây ra, bước tiếp theo là đưa ra được phương hướng điều trị cụ thể cho từng trường hợp.

- Phương hướng điều trị cũng như tiên lượng của sỏi tiết niệu nhất là sỏi niệu quản phụ thuộc vào 2 yếu tố
chính: kích thước và vị trí của sỏi.

Kích thước của sỏi

- Là đường kính lớn nhất đo được của sỏi, khi sỏi < 5 mm thì cố gắng tác động để sỏi có thể rơi xuống
bàng quang một cách tự nhiên. Trong những trường hợp này thì sỏi thường xuống trong vòng 2 tuần và
khoảng 80% số bệnh nhân không cần can thiệp gì ngoài thuốc giảm đau và giãn cơ trơn niệu quản.

- Những bệnh nhân có sỏi cản quang mà chọn phương pháp điệu trị bảo tồn này thì nên kiểm tra định kỳ
chụp bụng không chuẩn bị 1-2 tuần/lần và nên uống nhiều nước để tăng lượng nước tiểu bài tiết. Cần để
ý biến chứng nhiễm khuẩn trong thời gian này cũng như  theo dõi sát chức năng thận. Bệnh nhân nên đến
chuyên khoa tiết niệu khi kích thước của sỏi lớn hơn 5 mm hoặc kích thước tuy nhỏ hơn 5 mm nhưng sỏi
không xuống được bàng quang sau 2- 4 tuần điều trị bảo tồn để xem xét khả năng lấy sỏi.

Vị trí của sỏi

- Sỏi thận với kích thước < 2cm thường được điều trị bằng phương pháp tán sỏi ngoài cơ thể, tuy nhiên
nếu sỏi nằm ở phía đài dưới của thận thì cho kết quả kém hơn. Trong trường hợp sỏi nằm ở vị trí này thì
giới hạn chỉ định tán sỏi khi < 1cm.

- Sỏi niệu quản có kích thước dưới 1cm tán sỏi ngoài cơ thể cũng được áp dụng cho một số trường hợp.
Tuy nhiên tác động có hại cho buồng trứng là một trong những trở ngại để chỉ định phương pháp này ở
nữ giới trong tuổi sinh đẻ mà có sỏi nằm ở 1/3 giữa hoặc 1/3 dưới.
- Phương pháp mổ lấy sỏi qua da vẫn là một cách điều trị tương đối an toàn và hiệu quả nên được chỉ định cho các trường hợp sỏi thận có kích thước lớn và sỏi nằm ở niệu quản không có khả năng tán hoặc lấy sỏi qua nội soi.

- Ngày nay với phát triển của nội soi niệu quản thì ngoài phương pháp tán sỏi ngoài cơ thể cũng cũng có thể lấy sỏi qua nội soi. Chỉ định lấy sỏi qua nội soi phải dựa vào từng trường hợp cụ thể, thể trạng bệnh nhân, chức năng thận khi phát hiện sỏi cũng như kinh nghiệm của thầy thuốc và phương tiện của cơ sở điệu trị .

Điều trị giảm đau

-         Nhóm thuốc giảm đau chống viêm non-steroids như: Voltaren, Mobic, Felden...dùng đường uống hoặc đường tiêm.

-         Nhóm giảm đau trung ương như: morphin, codein.

-         Nhóm thuốc giãn cơ: Spasfon đường uống, Visceralgin đường tiêm.

-         Chú ý các tác dụng phụ của thuốc và thận trong trong trường hợp bệnh nhân đang có mất nước.

PHÒNG BỆNH

-         Với bất kỳ loại sỏi nào cũng cần: Uống nhiều n­ước, đảm bảo lượng nước tiểu khoảng > 2.5 lít/ngày.

-         Điều trị các đợt nhiễm khuẩn, viêm thận bể thận.Điều trị các biến chứng hay các yếu tố thuận lợi dễ gây hình thành sỏi.

-         Khi biết được nguyên nhân hay thành phần của sỏi thì phải điều trị theo nguyên nhân
TS.BS. Đỗ Gia Tuyển - Đại học Y Hà nội




thuoc chua benh soi than

Triệu chứng suy thận

Rất nhiều người mắc bệnh thận mạn nhưng không biết, bởi vì những dầu hiệu ban đầu có thể là rất khó thấy. Có thể mất nhiều năm để bệnh thận mãn (tiếng anh viết tắt là CKD) tiến triển thành suy thận. Một số người mắc bệnh thận mãn sống đến hết đời của họ mà chưa từng tiến tới suy thận

Tuy nhiên, với nhiều người tại bất cứ giai đoạn nào của bệnh thận, thì hiểu biết về nó vẫn là tối ưu. Biết được các dấu hiệu của bệnh thận có thể giúp bạn có được cách điều trị tốt nhất. Nếu bạn hay một ai đó mà bạn biết có từ 1 triệu chứng trở nên trong số các triệu chứng của bệnh thận dưới đây, hay là khi bạn lo rằng bạn có vấn đề với thận của bạn, hãy đi khám bác sĩ để được xét nghiệm máu và nước tiểu. Hãy nhớ rằng, nhiều triệu chứng có thể không do bệnh thận gây nên. Nhưng cách duy nhất để biết nguyên nhân của các triệu chứng mà bạn đang có là đi khám bác sĩ
Triệu chứng thường thấy
Triệu chứng 1: Những thay đổi khi đi tiểu
Thận tạo ra nước tiểu, do vậy khi thận bị hỏng, có thể có những thay đổi đối với nước tiểu như sau:

- Bạn có thể phải thức dậy vào đêm để đi tiểu

- Nước tiểu có bọt hay có nhiều bong bóng. Bạn có thể đi tiểu nhiều lần hơn bình thường, hay lượng nước tiểu nhiều hơn bình thường và nước tiểu có màu nhợt

- Số lần bạn đi tiểu ít hơn bình thường, hay lượng nước tiểu ít hơn bình thường, nước tiểu có màu tối.

- Nước tiểu của bạn có thể có máu

- Bạn có thể cảm thấy căng tức hay đi tiểu khó khăn

Dưới đây là mô tả của bệnh nhân:

“Khi bạn vào nhà vệ sinh nhiều hơn, bạn không thể đi tiểu hết. Và sau đó bạn vẫn cảm thấy giống như sự căng tức xuôi xuống dưới, thật sự là rất căng tức”

“Nước tiểu là thứ đầu tôi bắt đầu để ý đến. Sau đó tôi vào nhà vệ sinh thường xuyên hơn và khi vào nhà vệ sinh, tôi không thể đi tiểu. Bạn nghĩ rằng bạn cần phải đi tiểu, nhưng khi vào đến nhà vệ sinh: kết quả là chỉ hai hay ba giọt mà thôi”

“Tôi đi tiểu ra máu. Nước tiểu có màu rất sẫm giống như màu nho. Và khi tôi tới bệnh viện khám, ở đó họ lại nghĩ rằng tôi nói dối về màu của nước tiểu”

Triệu chứng 2: Phù

Những quả thận bị hỏng không loại bỏ chất lỏng dư thừa nữa, do vậy chất lỏng tích tụ trong cơ thể bạn khiến bạn bị phù ở chân, cổ chân, bàn chân, mặt và/hay tay

Mô tả của bệnh nhân:

“Tôi nhớ rằng tôi bị phù rất nhiều ở cổ chân. Cổ chân của tôi to đến nỗi tôi không thể đi giày nữa”

“Với chị tôi, tóc cô ấy bắt đầu rụng, cô ấy gầy đi, nhưng mặt thì thực sự là căng phồng lên, bạn biết đấy mọi thứ cứ giống như vậy cho đến khi cô ấy phát hiện ra rằng cô ấy mắc bệnh”

“Đi làm việc vào một buổi sáng, cổ chân tôi sưng phồng lên, thực sự là phồng to, và tôi rất rất mệt khi đi bộ đến bến đỗ xe bus. Và lúc đó tôi biết rằng tôi phải đi khám bác sĩ”
Triệu chứng 3: Mệt mỏi

Những quả thận khỏe mạnh tạo ra một hormon gọi là erythropoietin (đọc là a-rith'-ro-po'-uh-tin), hormon này thông báo cho cơ thể tạo ra các tế bào hồng cầu mang oxy.
Khi thận bị hỏng (suy), chúng tạo ra ít erythropoietin hơn. Do vậy cơ thể bạn có ít các tế bào hồng cầu vận chuyển oxy hơn, nên các cơ và đầu óc của bạn mệt đi nhanh chóng. Tình trạng này được gọi là thiếu máu. Và bệnh này có thể điều trị được.

Mô tả của bệnh nhân

“Tôi đột ngột cảm thấy mệt lả và không còn một chút tỉnh nào.”

“Tôi đã ngủ rất nhiều. Tan sở tôi về nhà và lên giường đi ngủ ngay”

“Nó như thể lúc nào bạn cũng cực kì mệt mỏi. Bị mệt, và sức khỏe của bạn như bị chảy đi hết thậm chí khi bạn chẳng làm gì cả”

Triệu chứng 4: ngứa/phát ban ở da
Thận loại bỏ các chất thải ra khỏi mãu. Khi thận bị suy, sự tích tụ của các chất thải này trong máu của bạn có thể gây ra những trận ngứa ở mức độ nặng.

Mô tả của bệnh nhân:

“Đó không hẳn chỉ là một trận ngứa ở da, mà nó chạy dọc xương. Tôi đã phải dùng bàn chải mà đào lên da thịt. Lưng của tôi rớm máu do bị cào quá nhiều.”

“Da tôi đã bị rách. Tôi đã rất ngứa và gãi rất nhiều”

Triệu chứng 5: Vị kim loại ở trong miệng/hơi thở có mùi amoniac

Sự tích tụ của các chất thải trong máu (được gọi là chứng urê huyết) có thể khiến thức ăn có vị khác đi và khiến hơi thở có mùi. Bạn cũng có thể để ý thấy rằng bạn không thích ăn thịt nữa, hay bạn giảm cân bởi vì bạn cảm thấy không thích ăn

Mô tả của bệnh nhân

“Bạn sẽ cảm thấy có vị lợm ở trong mồm bạn, Gần giống như bạn vừa uống sắt vậy.”

“Bạn không còn thèm ăn như trước đây nữa”

“Trước khi tôi bắt đầu lọc máu, tôi đã giảm khoảng 10 pound trọng lượng”

Triệu chứng 6: Buồn nôn và nôn

Sự tích tụ dữ dội của các chất thải trong máu (chứng ure huyết) cũng có thể gây nên tình trạng buồn nôn và nôn. Chán ăn có thể dẫn tới sút cân.

Mô tả của bệnh nhân

“tôi có rất nhiều cơn ngứa, và tôi bị nôn, nôn tất cả mọi thứ ra ngoài. Tôi không thể giữ bất cứ đồ ăn thức uống nào ở lại trong dạ dày cả.”

“khi tôi nôn, tôi không thể ăn, và lúc đó tôi đã có một thời gian khó khăn khi uống thuốc hạ huyết áp.”
Triệu chứng 7: Thở nông

Sự khó thở của bạn có thể có liên quan tới thận theo 2 cách sau, thứ nhất đó là chất lỏng dư thừa trong cơ thể của bạn tích tụ trong hai lá phổi. Và thứ hai, chứng thiếu máu (sự thiếu hụt các tế bào hồng cầu vận chuyển oxy) có thể khiến cơ thể bạn đói oxy và sinh ra chứng thở nông

Mô tả của bệnh nhân

“những lúc tôi thở nông, điều đó sẽ làm tôi sợ hãi. Tôi nghĩ có lẽ tôi có thể ngã hoặc sẽ có cái gì đó xảy ra với tôi, do vậy thường thì tôi đi tìm một chỗ để ngồi trong chốc lát”

“ Tôi không thể ngủ vào ban đêm, tôi không thể thở được, nó giống như tôi bị chết chìm. Và, tôi không thể bước đi đâu được nữa. Điều đó thật là tệ”

“bạn đi lên tầng trên để dọn phòng và lúc đó bạn hết thở được nữa, hay khi bạn làm việc bạn trở nên mệt mỏi và bạn phải ngưng công việc lại”

Triệu chứng 8: cảm thấy ớn lạnh

Thiếu máu có thể khiến bạn cảm thấy lúc nào cũng lanh, thậm chí khi bạn đang ở trong phòng có nhiệt độ ấm.

Mô tả của bệnh nhân:

“Tôi để ý thấy rằng thỉnh thoảng, tôi thực sự lanh, lúc đó tôi có những cơn rùng mình”

“Đôi khi tôi trở nên rất rất lạnh. Thời tiết lúc đó có thể nóng, và tôi thì vẫn lạnh”

Triệu chứng 9: Hoa mắt chóng mặt và mất tập trung

Thiếu máu liên quan đến suy thận nghĩa là não của bạn sẽ không được cung cấp đủ oxy nữa. Điều này có thể dẫn tới các vấn đề về trí nhớ, gây ra sự mất tập trung, hoa mắt và chóng mặt.

Mô tả của bệnh nhân:

“Tôi nhớ là tôi đã đề cập với vợ tôi về trí nhớ của tôi rằng tôi không thể nhớ những gì tôi đã làm từ tuần trước, hay có thể là 2 hôm trước thôi. Tôi thực sự không thể tập trung, vì tôi thích chơi giải ô chữ và đọc nhiều, nhưng không thể tập trung được.”
“Tôi đã luôn luôn mệt mỏi và hoa mắt chóng mặt.”
“Tình trạng đó xấu tới độ, tôi đang làm việc, và thật đột ngột tôi hoa mắt chóng mặt. do vậy tôi đã nghĩ rằng có lẽ là huyết áp của tôi hay bệnh tiểu đường của tôi trở nên xấu đi. Đó là những gì mà tôi đã nghĩ”

Triệu chứng 10: đau chân/cạnh sườn
Một số người mắc các bệnh về thận có thể bị đau ở lưng hay sườn điều này là do thận bị ảnh hưởng. Bệnh thận đa nang, có thể khiến các nang trong thận chứa đầy chất lỏng và to lên, và đôi khi thì gan, cũng có thể gây đau.
Mô tả của bệnh nhân

“Khoảng 2 năm trước, tôi lúc nào cũng vào nhà vệ sinh, và phần thấp của lưng luôn luôn đau đớn, tôi tự hỏi vì sao lại có chuyện như vậy….các bác sĩ đã chuẩn đoán rắng đó là do các vấn đề ở thận”

“Và sau đó bạn phải thức dậy trong đêm, lúc đó bạn bị đau ở sườn và lưng, bạn không thể nhúc nhích được.”

“vào ban đêm, tôi hay bị đau vùng sườn. Nó còn tệ hơn là đau nhức do làm việc nặng.”
 




thuoc chua benh soi than

Thuốc đông y trị sỏi thận, sỏi tiết niệu

Lá giang: Có tên khoa học  là Ecdysanthera rosea, thuộc họ trúc đào. Cây lá giang thường hay mọc hoang ở vùng đồi núi, bìa rừng. Nhân dân thường dùng để nấu canh chua và làm thuốc giải nhiệt. Cây lá giang có vị chua, tính mát. Có tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, lợi tiểu, chỉ thống (giảm đau), bài thạch (chữa sỏi tiết niệu)...
Cách dùng: 
 Lá giang tươi (có thể dùng cả dây) 200g. Sắc uống ngày một thang, chia nhiều lần uống trong ngày. Uống liên tục trong nhiều ngày.
Kết quả nghiên cứu cho thấy dùng nước sắc lá giang cho bệnh nhân sỏi thận uống trong 1 tháng liên tục thì 67% số bệnh nhân đã đái ra sỏi.


 Ô rô nước: Có tên khoa học Acanthus ilicifolius Linn. Thường mọc hoang ở vùng nước lợ. Cây có tác dụng chữa các bệnh như viêm đường tiết niệu, sỏi tiết niệu, khó tiêu, rắn cắn, thấp khớp, hen, đau dây thần kinh.
Cách dùng: 
Rễ cây ô rô nước 12-20g, cam thảo dây (hoặc cam thảo Bắc) 10g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày. Đợt điều trị 10-15 ngày, có thể dùng dài ngày nếu sỏi to.


 Kim tiền thảo: Có tên khoa học Desmodium styracifolium (Osb) Merr, thuộc họ cánh bướm Fabaceae. Còn có tên gọi vảy rồng, mắt rồng, mắt trâu, đồng tiền lông. Kim tiền thảo có vị ngọt nhạt, tính mát, thanh nhiệt, lợi thủy, thông đường niệu..., thường dùng chữa viêm thận phù thũng, viêm gan vàng da, sỏi bàng quang, sỏi túi mật, sỏi tiết niệu. Liều dùng 80g sắc uống, hoặc phối hợp với các vị khác.
Cách dùng
Bài 1: Kim tiền thảo 20-30g, cam thảo dây (hoặc cam thảo Bắc) 6g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2-3 lần. Uống lâu dài có thể làm tan sỏi.
Bài 2: Kim tiền thảo 30g, thạch cao 40g, đậu ván trắng 30g, cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày 1 thang.


 Dứa dại: Có tên khoa học là Pandanus tectoriuss Sol. Thuộc họ dứa dại Pandanaceae. Còn gọi với tên là dứa gai, dứa thân gỗ. Được dùng chữa các bệnh tiết niệu, gan, mẩn ngứa, trĩ...
Cách dùng:
Bài 1: Rễ dứa dại 30g, sắc uống ngày 1 thang.
Bài 2: Quả dứa dại 50g, kim tiền thảo 20g, mã đề 20g, cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2-3 lần uống trong ngày. Uống liên tục hàng tháng.
Bài 3: Quả dứa dại 50g, quả chuối hột 30g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.


 Thạch vĩ: Có tên khoa học Pyrrosia lingua (Thunb) Faraell. Thuộc họ ráng Polypodiaceae. Còn gọi là cây luỡi mèo. Thường mọc bám trên đá hoặc thân cây. Toàn cây hay thân rễ được thu hái dùng làm thuốc. Thạch vĩ có vị đắng, hơi cay, tính hàn, vào hai kinh phế và bàng quang. Có tác dụng thanh nhiệt chỉ huyết, tiêu thũng, tán kết, lợi tiểu... Thường dùng chữa các bệnh viêm đường tiết niệu, sỏi tiết niệu.
Bài 1: Thạch vĩ 12g, cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.
Bài 2: Thạch vĩ 12g, bòng bong 30g, kim tiền thảo 20g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.





thuoc chua benh soi than

Cách trị sỏi tiết niệu

Sỏi tiết niệu bao gồm sỏi đường trên (thận và niệu quản) và sỏi đường dưới (bàng quang và niệu đạo).
Trong vài thập niên gần đây đã có nhiều thay đổi trong các phương pháp điều trị sỏi tiết niệu: nghiêng về nội khoa, tán sỏi hơn là can thiệp phẫu thuật.

Thầy thuốc chọn các phương pháp điều trị dựa vào: vị trí của sỏi, kích thước của sỏi, thành phần của sỏi, mức độ tắc nghẽn, chức năng thận, nhiễm khuẩn, cường độ và tần suất xuất hiện đau.

Sỏi tiết niệu thường bị tái phát. Nếu không điều trị sớm và đúng cách, bệnh sẽ diễn biến tới suy thận giai đoạn cuối và cần điều trị thay thế bằng chạy thận nhân tạo chu kỳ, lọc màng bụng liên tục ngoại trú hay ghép thận.

Trong điều trị nội khoa, cùng với chế độ ăn ít calci, ít oxalat, nhiều chất xơ, uống nhiều nước hàng ngày, các thuốc được lựa chọn để điều trị sỏi tiết niệu là:

Thuốc có tác dụng bào mòn, tan sỏi, tống sỏi:
Các thuốc trong nhóm này sẽ làm giảm kết dính các tinh thể. Thuốc có hiệu quả ở những trường hợp sỏi nhỏ, bề mặt sỏi nhẵn, vị trí thấp. Gồm có:
- Kim tiền thảo với thành phần desmodium styracifolium có tác dụng giảm kết dính, tiêu viêm, giảm đau. Đây là dược liệu được sử dụng lâu đời ở Trung Quốc và Việt Nam, thịnh hành trong điều trị sỏi tiết niệu. Các công ty dược phẩm đã dùng các kỹ thuật bào chế hiện đại để sản xuất kim tiền thảo. Sirnakarang là sự kết hợp thành công giữa y học cổ truyền và công nghệ bào chế hiện đại có công năng thanh lợi thấp nhiệt, lợi tiểu mạnh, bào mòn làm tán sỏi theo nguyên lý - Nước chảy đá mòn- tiêu trừ thấp nhiệt, làm ngưng kết sỏi, khắc phục được nguyên nhân gây sỏi.
 

Phụ nữ có thai, nuôi con bú và trẻ em không nên dùng kim tiền thảo.
Ngoài kim tiền thảo, các lương y còn thêm râu ngô, bông mã đề, rễ cỏ tranh làm thang thuốc cho người bệnh uống hàng ngày.
- Thuốc có thành phần: cao hạt chuối hột, cao rau om, cao rau mèo, cao hạt lười ươi. Hoặc pinene, camphene cineol, fenchone, borneol, anethol, olive oil. Thuốc có tác dụng thải trừ sỏi, giảm viêm, tăng luồng máu qua thận và làm tăng thể tích nước tiểu, giảm đau, giảm co thắt đường niệu. Vì vậy có tác dụng thuận lợi cho đào thải sỏi cũng như ngăn ngừa sỏi tái phát.
- Dung dịch hemiacidrin chứa magnesium hydroxycarbonat, magnesium acid citrat, citric acid, anhydrous D gluconic acid và calcium carbonat được đưa trực tiếp vào niệu quản, thận, tiếp xúc với sỏi qua ống thông niệu quản hoặc qua da để hòa tan sỏi. Ở Việt Nam chưa có kinh nghiệm về thuốc và phương pháp điều trị này.
 
Thuốc có tác dụng hạn chế tạo thành sỏi
- Thuốc lợi tiểu nhóm thiazid gây tăng đào thải calci niệu. Thuốc có thể gây mất nước, tụt huyết áp.
- Dung dịch kiềm natribicarbonat. Pha 5g muối bicarbonat trong 500ml nước đun sôi để nguội uống trong ngày có tác dụng phòng sỏi urat trong bệnh gut.
- Orthophosphat để đào thải pyrophosphat ra nước tiểu có tác dụng ức chế kết dính phosphat calci tạo sỏi.
- Kali citrat để phòng ngừa sỏi acid uric, sỏi cystine.

Thuốc chống co thắt, giảm đau
Trong sỏi tiết niệu có triệu chứng đau do co thắt niệu quản, do tắc nghẽn. Tùy theo đau ít hay nhiều, có thể chọn một trong các thuốc sau:
- Papaverin: hiện ít dùng.
- Alverin citrat (spasmaverin). Không dùng cho phụ nữ có thai và cho con bú.
- Spasfon (viên 80mg, ống 40mg).
- Drotaverin (viên 40mg, ống 40mg).
- Buscopan (viên 10mg, ống 20mg).

Thuốc kháng sinh khi có biến chứng bội nhiễm
Trong sỏi tiết niệu tái phát, sỏi to san hô có bội nhiễm, các thầy thuốc thường chọn một trong các nhóm sau dựa vào thể trạng người bệnh và kinh nghiệm của thầy thuốc:
- Nhóm cephalosporin thế hệ 2, thế hệ 3, thế hệ 4.
- Nhóm quinolon dưới dạng viên hoặc ống: ciprofloxacin, levofloxacin, norfloxacin, ofloxacin.
- Rất thận trọng khi chỉ định nhóm aminoglycosides vì độc thận.
Việc điều trị nội khoa trong bệnh sỏi tiết niệu cần được tiến hành sớm, kịp thời, hiệu quả và theo dõi định kỳ tốt để tránh chuyển đến suy thận mạn.
 
PGS.BS. Trần Văn Chất


thuoc chua benh soi than

Sỏi thận thường đồng hành cùng sỏi mật

Nghiên cứu mới đây cho thấy những người bị sỏi thận sẽ có nguy cơ mắc sỏi mật và ngược lại. Điều thú vị là có thể phòng ngừa 2 bệnh này bằng chế độ ăn uống.

Dữ liệu được phân tích trong nghiên cứu này được lấy từ 3 nghiên cứu dài hạn độc lập của các y tá và bác sĩ, những người đã hoàn thành bảng câu hỏi về sức khỏe và lối sống, rồi báo cáo lại khi có sự thay đổi về điều kiện y tế hai năm một lần. Tổng cộng, hơn 240.000 người được theo dõi, ở độ tuổi từ 14 đến 24.

Trong thời gian đó, đã có khoảng 5.100 ca sỏi thận mới được chẩn đoán và gần 18.500 trường hợp mới bị sỏi mật.

Tùy thuộc vào số lượng - nam hay nữ, già hay trẻ - những người có tiền sử sỏi mật sẽ có nguy cơ mắc sỏi thận cao hơn 26 đến 32% so với những người chưa từng bị sỏi mật.
 

 Và cũng có sự liên hệ ngược lại. Những người từng bị sỏi thận tham gia nghiên cứu có nguy cơ nhiễm sỏi mật cao hơn 17 đến 51% so với những người mắc sỏi mới.

Số liệu trên đã loại bỏ các tác động của tuổi tác, bệnh tiểu đường, huyết áp cao, trọng lượng và các khía cạnh nhất định của chế độ ăn uống về nguy cơ đối với cả hai loại sỏi trên.

Theo trưởng nhóm nghiên cứu Eric Taylor, Trung tâm Y tế Maine ở Portland cho biết có thể là do có sự thay đổi của các loại vi khuẩn đường ruột, bằng cách nào đó làm cho chúng ta bị cả hai loại sỏi thận và sỏi mật. Tuy nhiên, Taylor cho biết, “điều mà chúng tôi chỉ không biết là vì sao hai bệnh này có liên kết với nhau”.

Trong khi đó, TS Brian Matlaga, một bác sĩ tiết niệu trường ĐH Y khoa Johns Hopkins ở Baltimore, người không tham gia vào nghiên cứu này, cho rằng: “Từ quan điểm cá nhân, chắc chắn không phải phổ biến là một bệnh nhân có cả hai loại bệnh này. Đó là bởi vì sỏi trong thận và trong túi mật túi mật có dạng khác nhau, và được hình thành khác nhau - hầu hết sỏi thận là sỏi canxi và sỏi mật là sỏi cholesterol”.

Tuy nhiên, các nhà khoa học đều tin rằng giá trị của nghiên cứu này ở chỗ sẽ giúp mọi người có cách để làm giảm nguy cơ sỏi mật và sỏi thận, ngay cả khi họ đã bị một trong hai loại bệnh này.

“Bạn có thể giảm thiểu những nguy cơ phổ biến bằng những việc như giảm cân và kiểm soát cholesterol”, ông nói.

Taylor đã đồng ý rằng những phát hiện này “nhấn mạnh tầm quan trọng của chế độ ăn uống lành mạnh và cân nặng phù hợp”.

Báo cáo đăng tải trên tạp chí Journal of Urology.

Chu Đình Tới
Theo Reuters





thuoc chua benh soi than

Sỏi thận dễ dẫn đến suy thận

Trong các loại sỏi tiết niệu thì sỏi thận là đáng sợ nhất. Nếu bị sỏi đường tiết niệu cả 2 bên (niệu quản, thận) thì nguy hiểm hơn rất nhiều. Sỏi thận nếu không được điều trị thì nguy cơ thận bị tổn thương do sự viêm nhiễm của sỏi thận gây nên. Từ đây thận có thể bị suy tạo ra một loạt biến chứng nguy hiểm cho người bệnh. Khi nhiễm khuẩn đường tiểu có thể làm xuất hiện hoại tử đường tiểu, các lỗ rò bàng quang hoặc rò niệu quản; làm ứ mủ bể thận hoặc làm xơ hóa thận. Hậu quả của xơ hóa thận sẽ dẫn đến giảm chức năng co bóp đường tiểu, chít hẹp làm bế tắc đường tiểu, tồn đọng nước tiểu và gây suy thận. Suy thận là bệnh thận mạn tính với tỷ lệ tử vong lên tới 90% (suy thận còn có thể do biến chứng của đái tháo đường, tăng huyết áp, viêm cầu thận).


Suy thận do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra, trong đó sỏi thận được xếp vào hàng đầu bảng. Vì vậy, khi bị sỏi thận cần hết sức thận trọng để tránh biến chứng suy thận.
 
Sỏi có thể gây tổn thương nguy hiểm đến thận:
Sỏi thận là một trong các loại sỏi đường tiết niệu (thận, niệu quản, bàng quang, niệu đạo, lỗ sáo). Tất cả các loại sỏi đường tiết niệu đều có thể làm ảnh hưởng đến thận do gây cản trở dòng chảy nước tiểu, làm ứ đọng nước tiểu gây viêm nhiễm đường tiết niệu và nguy hiểm nhất là nhiễm khuẩn thận gây hậu quả là suy thận. 
 
 
 Sỏi đường tiết niệu thường xuất hiện ở nơi có dòng nước tiểu yếu hoặc đường tiểu quá nhỏ, uốn khúc, bị hẹp do dị dạng bẩm sinh hay tắc nghẽn bởi chấn thương, u chèn ép hoặc do lao. Đa phần các trường hợp bị sỏi đường tiết niệu là do sự lắng đọng các khoáng chất (oxalat, canxi, vitamin C, acid uric, photpho...), trong khi lượng nước đào thải qua thận ít hoặc rất ít (do nhiều lý do khác nhau) sẽ làm lắng đọng các khoáng chất gây nên cặn thận, sỏi thận.
 
Trong các loại sỏi thận thì sỏi canxi là loại hay gặp nhất, chiếm khoảng 80 - 90% các trường hợp sỏi thận. Lý do là lượng canxi dư thừa trong cơ thể không sử dụng hết và được loại bỏ qua thận, lượng dư thừa này thường chảy vào nước tiểu. Nếu canxi không được đưa ra ngoài, hoặc đơn giản là quá nhiều để có thể hòa tan trong nước tiểu, nó sẽ rắn lại và kết hợp với các khoáng chất khác tạo thành sỏi. Sỏi canxi thường xuất hiện ở những nguời có lượng vitamin D cao hoặc bị cường tuyến giáp (hạch tuyến giáp quá nhạy cảm). Những người bị suy thận thường có khả năng bị sỏi canxi. 
Ngoài ra còn có loại sỏi được hình thành sau khi đường tiết niệu bị viêm (sỏi khuẩn). Loại sỏi này khá phổ biến ở phụ nữ, bởi lẽ phụ nữ dễ bị viêm đường tiết niệu hơn nam giới (niệu đạo nữ ngắn hơn nam giới, lỗ tiểu nữ lại gần hậu môn rất dễ nhiễm khuẩn). Mỗi khi bị viêm đường tiết niệu mạn tính sẽ tạo ra một loại enzym (men) làm tăng lượng amoniac trong nước tiểu. Lượng amoniac dư thừa này làm vi khuẩn có thể phát sinh nhanh hơn tạo điều kiện cho sỏi khuẩn được hình thành. Sỏi khuẩn thường có nhiều góc, cạnh nhọn, hoặc phân nhánh thành sừng và kích thước có thể phát triển lớn làm tổn thương đến thận.
Khác với nữ giới, nam giới có thể bị sỏi tiết niệu loại do acid uric gây ra. Sỏi acid uric thường gặp ở người có tiền sử bệnh gút. Sỏi thận được hình thành có thể được đào thải ra ngoài theo nước tiểu hoặc rơi xuống niệu quản, bàng quang, niệu đạo, nhưng nếu không có tác động gì thì chúng có thể được tồn tại ở đài hoặc bể thận, hoặc có mặt cả hai vị trí. Vì vậy, những vị trí có sỏi thường là ở thận, niệu quản chậu hoặc sát bàng quang, cổ bàng quang, niệu đạo, lỗ sáo... 

Phòng suy thận khi bị sỏi thận
Suy thận là trạng thái suy giảm chức năng của thận, bao gồm chức năng bài tiết lượng nước dư thừa trong cơ thể và bài tiết chất độc trong cơ thể do quá trình trao đổi chất gây ra. Suy thận sẽ làm suy giảm chức năng sản xuất một số hormon do thận sinh ra. Vì vậy, suy thận có thể sinh ra bệnh tăng huyết áp, suy tim, nhồi máu cơ tim, viêm loét dạ dày. Suy thận cũng làm giảm sức khỏe sinh sản, giảm khả năng tình dục và ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống. Những bệnh nhân bị sỏi thận nếu không được chữa trị sớm và kịp thời sẽ có nguy cơ bị suy thận rất cao. 


Sỏi thận có thể do tình cờ phát hiện khi khám bệnh định kỳ hoặc do khám một loại bệnh khác (đau thắt lưng do thoái hóa cột sống, hoặc thoát vị đĩa đệm). Hoặc sỏi thận được phát hiện khi siêu âm ổ bụng vì một lý do nào đó. Dù là lý do gì đi chăng nữa nhưng khi bị sỏi thận thì không được chủ quan, xem thường (vì có nhiều trường hợp không có biểu hiện gì kèm theo) để đề phòng suy thận có thể xảy ra. Muốn vậy, nên khám bệnh định kỳ hoặc mỗi khi thấy cơ thể bất thường (đau, mỏi thắt lưng, rối loạn tiểu tiện hoặc sốt không rõ nguyên nhân...) thì cần đi khám bệnh để hy vọng phát hiện sỏi thận càng sớm càng tốt.
 
Khi đã được xác định bị sỏi thận thì cần điều trị tích cực theo đơn thuốc và tư vấn của bác sĩ. Tùy theo mức độ của bệnh mà bác sĩ khám bệnh sẽ có hướng điều trị cụ thể. Nếu ở mức độ còn có thể điều trị nội khoa để bào mòn sỏi, cộng thêm uống nhiều nước (nếu có thể) để tống sỏi ra ngoài thì có thể dùng các loại thuốc Tây y hoặc Đông y. Tất nhiên uống thuốc gì, liều lượng bao nhiêu là do bác sĩ khám bệnh chỉ định. Nếu bác sĩ thấy tính chất, vị trí và kích thước của sỏi thận không cho phép điều trị nội khoa thì sẽ giải quyết bằng phương pháp ngoại khoa (mổ lấy sỏi).
BS. Việt Bắc

 


thuoc chua benh soi than