Thursday, February 13, 2014

Phát hiện 118 ca nhiễm HIV mới ở Đà Nẵng

Chỉ riêng trong năm qua, thành phố phát hiện 118 ca nhiễm HIV mới, giảm 2 ca so với cùng kỳ. Đó là con số đưa ra tại hội nghị phòng chống tệ nạn ma túy, mại dâm năm 2013, triển khai nhiệm vụ năm 2014 do UBND thành phố Đà Nẵng tổ chức ngày 13-2. Đối tượng nhiễm HIV mới được phát hiện tại 7 quận huyện, trong đó nhiều nhất là Thanh Khê: 16 ca và Liên Chiểu: 15 ca. Số trường hợp nhiễm HIV mới là người ngoại tỉnh vẫn chiếm tỷ lệ cao. Đã có gần 50% và nguy cơ lây truyền chủ yếu được xác định là qua đường tình dục không an toàn. Cũng theo báo cáo tại hội nghị, năm qua, lực lượng chức năng đã bắt giữ 99 vụ và 148 đối tượng hoạt động phạm tội về ma túy thu giữ hơn 1.400 gam ma túy tổng hợp, hơn 500 gam cần sa, 45 gam heroin. Như vậy, số vụ và đối tượng bị bắt giữ đều tăng hơn so với năm 2012.



thuoc chua benh soi than

Bệnh do virus

CÓ NGƯỜI BỊ MỤN RỘP MÔI TƯỞNG LÀ DO DỊ ỨNG, DO THIẾU VITAMIN C VÀ CỨ MỖI LẦN TÁI PHÁT LẠI DÙNG CÁC THUỐC NÀY. BỆNH KHÔNG KHỎI MÀ CÒN NẶNG HƠN.

Vài đặc điểm về bệnh
Bệnh do virus herpes simplex. Như ta biết herpes simplex có 2 nhóm. Herpes simplex nhóm II gây mụn rộp bộ phận sinh dục, nhóm I gây ra mụn rộp môi.
Khoảng 80% dân số nhiễm virus này, nhưng bình thường chúng nằm yên trong cơ thể, chỉ có khoảng 25% phát bệnh, khi có điều kiện thuận lợi, xảy ra chủ yếu ở trẻ em và cả người lớn. Mỗi đợt kéo dài 1 - 3 tuần, tùy người một năm tái phát 1 - 2 lần, cũng có khi đến 5 - 6 lần. Dấu hiệu dễ thấy là bị ngứa, nóng, rát, đỏ da, có cảm giác lăn tăn ở môi, sau đó xuất hiện những mụn nước nhỏ li ti, tập trung thành từng đám trên môi hay quanh môi (đôi khi còn ở miệng, má, cằm, mũi). Những mụn này chứa đầy dịch, khi bị vỡ, dịch chảy ra ngoài làm lây bệnh. Đường lây do tiếp xúc, chủ yếu qua môi (hôn, dùng chung khăn mặt).
Trường hợp sức đề kháng yếu hoặc bị các bệnh làm suy giảm miễn dịch, bệnh thường nặng (lan rộng, kéo dài, có biến chứng). Còn lại đa số trường hợp khác, bệnh thường nhẹ, có thể tự khỏi trong vài tuần.



Một số thuốc thường dùng:

Thuốc kháng virus: chọn một trong 3 loại acyclovir, famcyclovir, valacylovir. Trường hợp nhẹ hay nặng đều nên dùng, vì thuốc làm rút ngắn thời gian kéo dài, giảm tái phát, trường hợp nặng càng cần phải dùng vì thuốc giúp giảm mức trầm trọng. Dùng càng sớm càng tốt, ngay sau khi có dấu hiệu bị bệnh đầu tiên (ngứa, nóng rát, đỏ). Liều dùng phải cao (ví dụ như acyclovir mỗi ngày uống 2 - 3 lần, mỗi lần 400mg). Đợt dùng thường kéo dài 5 ngày. Riêng với người bệnh có nhiễm HIV, đợt dùng tối thiểu 10 ngày. Nếu dùng đường uống thì nên chọn là famcyclovir. Trong trường hợp đặc biệt cần thiết (người bệnh không dung nạp, hoặc đứng trước nguy cơ diễn biến xấu, kể cả trường hợp nhiễm HIV) thì có thể dùng acyclovir truyền tĩnh mạch.


Thuốc giảm đau: đau không dữ dội, nhưng kéo dài, gây khó chịu, nên chọn loại thông thường, ít gây tai biến như acetaminophen (paracetamol).

Thuốc chăm sóc tại chỗ: trường hợp nặng hay nhẹ đều cần dùng. Trường hợp nhẹ có khi chỉ cần dùng thuốc chăm sóc tại chỗ bệnh vẫn khỏi. Thuốc chăm sóc tại chỗ gồm: Cream kháng virus acyclovir 5% có tác dụng như: loại uống nhưng mức độ thấp hơn.

Các thuốc chống bội nhiễm (dung dịch povidin, betadin, dung dịch milian): nhờ chống bội nhiễm, thuốc làm khô nhanh các vết trợt lở và đóng mày. Các loại kem chống nắng bôi môi có chỉ số chống nắng (SPF) khoảng 15. Cream làm giảm đau xyclocain. Ngoài ra, cần súc miệng bằng nước muối, tắm nước ấm hay dung dịch thuốc tím pha loãng. Không nhất thiết phải dùng tất cả mà chỉ chọn loại cần thiết (ví dụ trong trường hợp nặng đã dùng kháng virus uống hay tiêm thì không cần dùng dạng cream).



Thuốc ngăn ngừa tái phát: virus thường có trong cơ thể, trong đợt bùng phát bệnh, dù có dùng kháng virus cũng không bao giờ loại sạch hoàn toàn, nên không thể chữa khỏi vĩnh viễn, có thể tái phát khi có điều kiện. Tuy nhiên, chỉ dùng thuốc ngừa tái phát thường xuyên, lâu dài với những người mỗi năm tái phát từ 6 lần trở lên. Phổ biến là dùng từ 6 - 18 tháng, khi mỗi năm chỉ còn tái phát từ 2 lần trở xuống thì ngừng dùng. Nhưng trong thực tế, người ta cũng từng dùng cho những người đặc biệt liên tục đến 13 năm. Thuốc chọn dùng là một trong 3 kháng virus acyclovir, famcyclovir, valacylovir. Tuy dùng liều thấp hơn trong đợt điều trị cấp tính (bằng khoảng 1/2 - 2/3) nhưng vì dùng thường xuyên, lâu dài nên thuốc có tác dụng phụ (tuy không lớn) và tốn kém, cần phải cân nhắc.

Song song với việc dùng thuốc cần có chế độ dinh dưỡng tăng khả năng đề kháng cơ thể. Cần tránh các loại thức ăn có hàm lượng arginin cao (dừa, đậu nành, sô-cô-la, cà rốt...) vì arginin là yếu tố cần để herpes simplex tái sinh, tuy nhiên không kiêng hoàn toàn, vì arginin cũng rất cần cho việc hấp thu thức ăn phát triển cơ thể. Người đang có bệnh không làm lây sang người lành bằng cách tiếp xúc (hôn, dùng chung khăn mặt), không làm lan rộng bệnh ra vùng khác (tránh sờ lên mắt, không dùng nước miếng làm ướt kính sát tròng, tránh hoặc cẩn thận khi dùng mỹ phẩm, thuốc tẩy trang).

Mụn rộp môi không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe song không lợi về thẩm mỹ, người bệnh lo chữa chủ yếu vì mục đích này. Tuy không chữa khỏi vĩnh viễn nhưng nếu dùng thuốc đúng, tránh làm xuất hiện những điều kiện thuận lợi thì sẽ giảm và có khi không còn tái phát.

Wednesday, February 12, 2014

Đau gót chân, bị bệnh gì?

Đau gót chân là chứng đau tại vùng gót gây ra bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. Tùy vào vị trí đau có thể chia đau gót chân thành hai nhóm chính: đau vùng dưới gót và đau phía sau gót. Đau bên dưới gót chân thường gặp nhất do các nguyên nhân: viêm cân gan chân, gai xương gót, hội chứng đường hầm cổ chân, chấn thương vùng gan chân do đi lại...
Các nguyên nhân hay gặp nhất của đau vùng sau gót chân bao gồm viêm gân gót (viêm gân Achille) và viêm bao hoạt dịch gân gót. Viêm cân gan chân là nguyên nhân hay gặp nhất của đau mặt dưới gan chân. Cân gan chân là dải cân chạy từ mặt dưới các ngón chân đến tận cùng phía dưới của gót chân. Khi hoạt động các động tác dồn lực nhiều lên gan chân như chạy nhảy, leo trèo, thậm chí đứng nhiều sẽ tác động lên cân gan chân, ban đầu gây kích thích cơ học, về lâu dài sẽ dẫn đến tình trạng viêm. Ở những người có bề mặt gan chân bất thường, ví dụ quá phẳng hoặc quá lõm, hoặc béo phì, làm nghề thường phải đi bộ nhiều hay đứng lâu... là những yếu tố thuận lợi gây ra chứng đau gan chân. Triệu chứng hay gặp là đau ở vùng mặt dưới gót chân, đau tăng lên khi thay đổi động tác từ nằm hay ngồi lâu sang động tác đứng, đặc biệt đau nhiều vào buổi sáng khi mới ngủ dậy bước chân xuống giường, sau khi đi lại vận động một lúc thì triệu chứng đau sẽ giảm dần đi. Khi dùng lực đầu ngón tay ấn lên mặt dưới gót chân bệnh nhân rất đau. Siêu âm phát hiện bất thường như dày cân gan chân, giảm âm. Chụp phim Xquang xương gót có thể bình thường, hoặc thấy hình ảnh gai xương gót hay bất thường bề mặt xương tạo nên hình ảnh gan chân phẳng hay quá lõm. Chụp Xquang cũng loại trừ một số nguyên nhân gây đau gót chân khác như gãy xương, viêm xương, u xương hay nang xương vùng bàn, gót chân.
Điều trị bao gồm các biện pháp nội khoa như nghỉ ngơi, nẹp bất động bàn chân ở tư thế trung gian vào buổi tối, chườm túi đá vào vùng gót chân, tránh đi chân đất, tập các bài tập duỗi cơ cẳng chân như kéo các ngón chân về phía mặt trước cẳng chân nhiều lần vào buổi sáng; đi giày dép có lót đế mềm, hoặc giày dép chỉnh hình khi có bất thường xương bàn chân; dùng thuốc chống viêm giảm đau không steroid như aspirin, diclofenac, meloxicam hoặc tiêm corticoid tại chỗ (cần thận trọng, có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa cơ xương khớp). Điều trị ngoại khoa bao gồm các biện pháp chỉnh sửa dị tật bàn chân hay cắt bỏ gai xương gót (ít khi có chỉ định).
Gai xương gót: là hậu quả của tình trạng viêm cân gan chân kéo dài dẫn đến mọc xương tân tạo tại vùng gót chân. Gai xương gót thường không phải là nguyên nhân trực tiếp gây đau ở gót chân vì nhiều người đau gót mà không có gai xương, ngược lại nhiều người hiện tại có gai xương mà lại không đau gót. Chính vì vậy điều trị gai xương gót cũng tương tự như điều trị viêm cân gan chân và hiếm khi cần phải mổ cắt bỏ gai.
Hội chứng đường hầm cổ chân: do chèn ép dây thần kinh chày sau dẫn đến đau hay rối loạn cảm giác như tê rát, tê cóng, căng chặt vùng bàn chân hay gót chân, có thể nhầm với viêm cân gan chân. Nguyên nhân chèn ép có thể do gãy xương sau chấn thương, hạch, khối u lành hay ác tính... Chẩn đoán xác định bằng Tinel'test và đo điện cơ để phát hiện các bất thường thần kinh chày sau. Các biện pháp khác tìm nguyên nhân như chụp Xquang, siêu âm, chụp cắt lớp vi tính hay cộng hưởng từ vùng cổ chân. Điều trị tùy theo nguyên nhân có thể bao gồm thuốc chống viêm giảm đau không steroid, tiêm corticoid tại chỗ hay các biện pháp phẫu thuật giải phóng chèn ép.
Một trong những nguyên nhân khác gây đau gót chân là do chấn thương trực tiếp tại vùng gan chân do đi trên nền cứng không bằng phẳng, giẫm phải sỏi đá... làm tổn thương trực tiếp lên mô mỡ đệm ở gan chân. Thường chỉ cần nghỉ ngơi vài ngày là hết, thuốc giảm đau thông thường hay chống viêm giảm đau cũng có tác dụng tốt. Đau vùng mặt sau gót chân hay gặp nhất là viêm gân gót hoặc viêm bao hoạt dịch gân gót. Viêm gân gót hay gặp ở những vận động viên các môn như  điền kinh, bóng đá, bóng chuyền, bóng rổ, tennis... hay vận động với cường độ cao hoặc gặp ở lứa tuổi trung niên, đặc biệt những người trước kia là vận động viên. Khi đó gân gót bị kéo căng quá mức do vận động quá tải, cộng với những chấn thương lặp đi lặp lại mà không được xử trí đúng cách làm gân gót mất tính mềm dẻo, trở nên thoái hóa, có những tổn thương rách nhỏ do đó dễ bị viêm, thậm chí đứt gân. Những yếu tố thuận lợi khác dễ gây viêm gân gót như thay đổi giày đi, thay đổi chế độ luyện tập, ví dụ tăng lượng vận động. Triệu chứng: đau dọc vùng gân gót hoặc tại điểm bám của gân vào xương gót. Sưng đau vùng gót chân, gân gót sưng rõ, có thể nóng đỏ, sờ thấy nổi cục, ấn vào đau, làm động tác gấp duỗi bàn chân có lực cản thì đau tăng. Chụp Xquang gân gót thường bình thường, cũng có thể thấy canxi hóa tại điểm bám của gân vào xương gót. Siêu âm có thể thấy gân gót to, giảm âm hơn bên lành, có thể kèm viêm bao gân gót. Chụp cộng hưởng từ thấy những rách nhỏ trong gân. Về điều trị: ngưng những hoạt động gây đau, chườm đá tại chỗ, tập bài kéo giãn cơ bắp chân và mắt cá, đi giày dép có tác dụng nâng gót ở cả hai chân và có phần cứng bảo vệ gót chân, vật lý trị liệu như nhiệt nóng bằng parafin, túi chườm, hồng ngoại, sóng ngắn. 



thuoc chua benh soi than

Cách làm xà bông handmade

Vào mùa đông giá lạnh da chúng mình trở nên khô nẻ, xám xịt và thiếu sức sống. Những lúc như vậy, nước hoa hồng luôn là trợ thủ đắc lực cho làn da trở nên tươi sáng, rạng ngời. Hoa hồng có công dụng làm đẹp kì diệu, cung cấp độ ẩm và  vitamin cho da.
Nước hoa hồng giúp cân bằng lượng dầu thừa, cấp nước cho làn da se khít lỗ chân lông và căng mịn như da em bé. Cách làm nước hoa hồng rất đơn giản và dễ thực hiện.
Chuẩn bị nguyên liệu:

- 1 muỗng sáp đậu nành
- 1 muống dầu hạnh nhân hoặc dầu hạt nho
- 4 giọt tinh dầu cam ngọt
- 4 giọt tinh dầu oải hương
- 7 giọt tinh dầu ngọc lan tây ( ylang ylang)
- 1 hũ nhỏ
Tiến hành nào:
- Cho sáp và dầu vào lò vi sóng hoặc đun cách thủy ở nhiệt độ thấp cho tan chảy sáp
- Tắt bếp và nhanh tay nhỏ tinh dầu vào dung dịch này và khuấy đều.
- Đổ dung dịch ra hũ đựng và đưa vào tủ lạnh cho đến khi đông cứng lại
- Cất chúng trong túi xách của bạn và thoa lên cổ, cổ tay mỗi khi bạn muốn
Thế là bạn đã tự làm cho mình 1 lọ nước hoa khô ấn tượng với hương cam ngọt ngào sành điêu, phảng phất hương hoa oải hương và lắng đọng lại hương ngọc lan ngọt ngào, quyến rũ, mang dáng dấp của hãng nước hoa Channel No.5nổi tiếng hàng đầu thế giới đấy.
Hãy sáng tạo nhiều hương thơm để dành tặng một nửa của mình vào ngày 14/2 này nhé! Chúc bạn thành công!

Tuesday, February 11, 2014

Hải sản gây độc cho thận


Một hóa chất có thể tích lũy trong hải sản và là nguyên nhân gây tổn thương não và với nồng độ thấp hơn 100 lần đủ để gây độc cho thận.
Một số loại rong biển sản sinh ra những chất độc hại, nhiều chất trong số này được xem là những độc tố thần kinh vì chúng gây tổn thương não.


 Một trong số đó là axít domoic, một độc tố rất bền vững, chịu được nhiệt độ cao, có thể gây ngộ độc hải sản.

Chất này có thể tích lũy trong vẹm, ngao, sò và cá. Cơ quan Quản lý Thuốc và Thực phẩm (FDA) Mỹ đã quy định giới hạn pháp lý của axít domoic trong hải sản chủ yếu dựa trên tác dụng độc của nó đối với thần kinh.


Các nhà nghiên cứu tại Trường Đại học Y Nam Carolina (Mỹ) đã thử trên chuột những liều axít domoic khác nhau và nhận rằng thận nhạy cảm với độc tố này hơn nhiều so với não.

“Chúng tôi thấy rằng axít domoic acid gây tổn thương thận ở nồng độ thấp hơn 100 lần so với nồng độ gây ra những tác động trên thần kinh”, GS. Darwin Bell cho biết.

“Điều này có nghĩa là những người ăn hải sản có thể tăng nguy cơ bị tổn thương thận dẫn đến suy thận và phải chạy thận nhân tạo”.

Tuy những phát hiện này cần được xác nhận trên người, song các nhà nghiên cứu cho biết cần nâng cao nhận thức và theo dõi hàm lượng axít domoic trong tất cả các loại hải sản và cần xem xét lại giới hạn về axít domoic quy định trong thực phẩm do độc tính của chất này đối với thận.


thuoc chua benh soi than






Bệnh viêm tiền liệt tuyến gây nhiều phiền toái cho người bệnh


Tiền liệt tuyến (TLT) chỉ có ở nam giới. viêm tiền liệt tuyến là một bệnh có thể gặp ở nam thanh niên, với người cao tuổi (NCT) bệnh chiếm tỉ lệ cao hơn cả. Viêm tiền liệt tuyến gây ra nhiều phiền toái cho người bệnh, đặc biệt là loại cấp tính.


Nguyên nhân nào?
TLT là một cơ quan có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành tinh dịch và đóng vai trò quan trọng trong sinh dục, đồng thời TLT có vai trò trong việc điều hòa tiểu tiện.
Nguyên nhân của viêm TLT có rất nhiều loại khác nhau, một số nghiên cứu cho thấy tỉ lệ người bị viêm TLT không do nhiễm khuẩn chiếm tỉ lệ cao hơn nguyên nhân do nhiễm khuẩn, nhưng nguyên nhân là gì thì người ta đang tiếp tục nghiên cứu. viêm TLT không do nhiễm khuẩn, thông thường do tình cờ bác sĩ phát hiện bởi khám bệnh về đường sinh dục tiết niệu vì một lý do nào đó. Với loại viêm tlt do nhiễm khuẩn hay gặp là do viêm ở một số cơ quan lân cận rồi lan sang viêm TLT như: viêm trực tràng, tinh hoàn, mào tinh hoàn, ống dẫn tinh, nhưng hay gặp nhất trong số đó là viêm đường tiết niệu (viêm niệu đạo, bàng quang, thận, đặc biệt là viêm niệu đạo). Thủ phạm gây viêm ở đường tiết niệu có thể là do vi khuẩn hoặc do virút. vi khuẩn thường gặp tụ cầu vàng (s.aureus), tụ cầu da (s. epidermidis) hoặc tụ cầu hoại sinh (s. saprophyticus), liên cầu (streptococcus), lậu cầu (n. gonorrhaeae), mycoplasma, chlamydia, vi khuẩn đường ruột mà điển hình là e.coli, hoặc giả bạch hầu (corynebactorium hoffmanii), vi khuẩn lao (m. tuberculosis). một đặc điểm được ghi nhận là nếu viêm tlt do nhiễm khuẩn thì ít khi xuất hiện ung thư TLT. Ngoài ra, viêm TLT còn do chấn thương vùng hạ vị hoặc do bị cảm lạnh đột ngột.
Người ta cũng đề cập đến nguyên nhân viêm tiền liệt tuyến do
nghiện rượu, bia, nghiện thuốc lá, thuốc lào hoặc sinh hoạt tình dục quá mức bình thường.
Triệu chứng
Có hai loại bệnh viêm TLT, đó là viêm TLT cấp tính và viêm TLT mãn tính.  Đối với viêm TLT tuyến cấp tính bệnh xảy ra đột ngột, có sốt (có thể sốt vừa, thậm chí sốt cao nếu độc lực của vi khuẩn mạnh), ớn lạnh, rét run, đau đầu, đau vùng hạ vị và khắp thân mình như dạng bệnh bị cảm. người bệnh thường có dấu hiệu buồn đi tiểu (mót tiểu) và đi tiểu nhiều lần, tiểu gấp, đau, rát, buốt, tiểu không hết, tiểu són, có khi không tiểu được, có thể tiểu ra máu.
Ngoài ra, người bệnh có thể kèm theo đau vùng tiểu khung và khi xuất tinh thấy đục. cần cảnh giác cao với viêm TLT cấp tính, bởi vì, bệnh có thể sẽ dẫn tới một số biến chứng như áp-xe TLT, hình thành tổ chức xơ, bí tiểu cấp tính, viêm mào tinh hoàn, viêm nội mạc cơ tim, thậm chí nhiễm trùng huyết rất nguy hiểm cho tính mạng. nếu ổ viêm ở đỉnh của TLT có thể sẽ phát triển thành những tổ chức xơ ở cổ bàng quang hoặc nếu viêm nhiễm xảy ra ở vùng đáy của tlt thì có thể  gây ra những đợt viêm kịch phát, nguồn gốc của những đợt đau và đái ra mủ liên tục. một số biến chứng viêm TLT có thể dẫn tới vôi hóa TLT nếu không được điều trị dứt điểm.
Đối với viêm TLT mãn tính thường có rối loạn tiểu tiện (đi tiểu nhiều lần, tiểu són gần như lần nào cũng có), đái máu vi thể hoặc đại thể (đái máu vi thể là mắt thường không nhìn thấy máu, phải có sự hỗ trợ khi soi cặn nước tiểu dưới kính hiển vi quang học, còn đái máu đại thể là người bệnh và bác sĩ khám bệnh đều nhìn thấy nước tiểu màu đỏ hồng). một số trường hợp thỉnh thoảng thấy tiểu ra máu lẫn tinh dịch, vùng hạ vị lúc nào cũng có cảm giác tức và đau âm ỉ. ngoài ra, viêm TLT mãn tính còn thấy biểu hiện giảm hưng phấn tình dục hoặc rối loạn xuất tinh, ảnh hưởng đến sinh sản (ở độ tuổi sinh sản). Ngoài ra, viêm TLT mãn tính có thể gây rối loạn giấc ngủ (ngủ không sâu, hay tỉnh giấc, ngủ ít và khi tỉnh giấc thì khó ngủ trở lại).
Nguyên tắc điều trị và dự phòng
Khi nam giới ở tuổi trưởng thành và nhất là NCT khi có biểu hiện về viêm TLT có ít hoặc nhiều triệu chứng như vừa nêu trên cần đi khám bệnh ngay không nên để bệnh trở thành mãn tính gây khó khăn cho việc chữa trị. đi khám bệnh càng sớm càng tốt để loại trừ một số bệnh về TLT hoặc đường tiết niệu như: lao TLT, ung thư TLT hoặc viêm đường tiết niệu. dùng kháng sinh và chống viêm là cần thiết để tiêu diệt mầm bệnh đối với viêm tlt do nhiễm khuẩn, nhưng phải do bác sĩ chỉ định, người bệnh cần tuân thủ nghiêm túc không để biến chứng xảy ra hoặc bệnh chuyển sang mạn tính.
Cần điều chỉnh các hoạt động trong cuộc sống hàng ngày cho thích hợp như không nên ngồi ở các loại ghế cứng mà nên ngồi các loại ghế mềm (có đệm) nhằm hạn chế sức nặng đè lên TLT. không nên ngồi quá lâu trong nhiều giờ liền làm ảnh hưởng đến lưu thông máu đến TLT.

Tránh lao động quá nặng so với sức lực và tuổi tác của mình. không nên sinh hoạt tình dục thái quá. nên tập thể dục đều đặn và nên xoa vùng bụng dưới (hạ vị) hàng ngày nhất là trước khi đi ngủ buổi tối và sáng sớm lúc vừa ngủ dậy. cần vệ sinh sạch sẽ hàng ngày cơ thể và nhất là bộ phận tiết niệu- sinh dục. không nên ăn, uống các chất kích thích quá nhiều, nhất là rượu, bia, thuốc lá, thuốc lào.

thuoc chua benh soi than

Monday, February 10, 2014

Đồ ăn tốt cho đường tiêu hóa

Khi bị đầy bụng, khó tiêu, ngoài việc nên tránh những thức ăn khó tiêu như dầu, mỡ động vật, và nên ăn các loại thức ăn dễ tiêu, nấu mềm, chúng ta có thể dùng các vị thuốc có tác dụng kích thích tiêu hóa là những quả, cây, lá có sẵn trong vườn nhà, vừa không tốn kém lại không gây hại cho cơ thể.
Phật thủ: Theo y học cổ truyền phật thủ có vị cay, đắng, chua, tính ấm, có tác dụng hành khí chỉ thống, hóa đờm, kiện vị, chỉ khái, có tác dụng chữa ho và là vị thuốc giúp tiêu hóa tốt. Cách dùng: Lấy 30g phật thủ tươi, thái lát, sắc kỹ lấy nước uống trong ngày. Hoặc: Phật thủ 30g, quả cam tươi 30g, sắc uống 2 lần vào buổi sáng và chiều. Uống 3 - 5 ngày.
Quất: Quả quất được dùng làm nước giải khát, chữa khó tiêu và chữa ho. Cách dùng: Quả quất chín 1kg, rửa sạch, để ráo nước. Dùng kim châm sâu vào quả nhiều lỗ. Cho quất vào lọ cùng với 2kg đường kính, cứ một lớp quất lại một lớp đường, đậy kín để trong vòng 7 ngày, thu được sirô quất màu vàng, mùi thơm. Khi dùng, lấy 1 - 2 thìa to sirô quất pha với 100ml nước đun sôi để nguội uống.
Trần bì: Là vỏ phơi khô của quả quýt chín, họ cam. Theo Đông y, trần bì có vị cay, đắng, tính ấm, có tác dụng hành khí, hòa vị, cầm nôn mửa. Thường dùng điều trị ăn không tiêu, đầy bụng, ợ hơi, tiêu chảy, tiêu đờm, giảm ho. Cách dùng: Xé vài miếng trần bì, rửa qua nước ấm cho sạch, bỏ vào cốc nước sôi, hãm trong 15 - 20 phút có thể dùng được. Chú ý chỉ uống nước lúc còn đang nóng, bỏ bã.
Chỉ thực - chỉ xác: Là quả phơi khô của các cây thuộc họ cam quýt. Chỉ thực là quả hái vào lúc còn non, nhỏ. Chỉ xác là quả hái vào lúc gần chín, chỉ xác thường to hơn chỉ thực và được bổ đôi để phơi cho chóng khô. Chỉ thực và chỉ xác đều có có tác dụng tiêu hóa, trừ đờm, chữa trướng bụng, lợi tiểu,… Cách dùng: Chỉ xác 10g, đu đủ xanh khô (mộc qua) 30g, gừng khô 6g. Hai thứ đem sắc kỹ, uống mỗi ngày 1 - 2 lần.
Gừng: Gừng tươi được dùng làm thuốc chữa nôn mửa, bụng đầy trướng, để kích thích tiêu hóa, giải độc. Ngày dùng 4 - 8g sắc uống.
Rau mùi: Rau mùi là loại rau gia vị phổ biến. Theo Đông y, rau mùi có vị cay, tính ấm, có tác dụng kích thích tiêu hóa, chống đầy hơi. Cách dùng: Có thể dùng làm rau gia vị ăn kèm với các món ăn hoặc lấy rau mùi tươi rửa sạch, giã nát, thêm một chút nước vắt lấy nước cốt uống mỗi lần 2 - 3 thìa, có tác dụng chữa ăn không tiêu, đầy bụng, khó chịu ậm ạch.






thuoc chua benh soi than