Monday, October 28, 2013

CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ SỎI THẬN - TIẾT NIỆU


1. Điều trị nội khoa- Những sỏi niệu quản có kích thước nhỏ (< 5mm), dùng giãn cơ trơn, giảm đau nếu cần. Kết hợp với thuốc đông y như Kim tiền thảo, bông mã đề, sắc nước uống - Có thể dùng thuốc cốm Sirnakarang để thay cho bước này; kết hợp uống nhiều nước, vận động nhẹ nhàng.
- Bệnh nhân cần được theo dõi bằng siêu âm, nếu sau 1- 2 tháng không đái ra sỏi cần chuyển phương pháp điều trị khác.

2. Tán sỏi ngoài cơ thể:
Nguồn năng lượng phát ra từ nguồn tán sỏi sẽ được hội tụ tại viên sỏi, năng lượng sẽ làm phá vỡ sỏi, sỏi vỡ nhỏ sẽ theo nước tiểu ra ngoài.
Tán sỏi ngoài cơ thể là phương pháp điều trị không xâm lấn, hiệu quả nếu chỉ định đúng. Thời gian tán sỏi khoảng 60 phút, bệnh nhân có thể không phải nằm viện điều trị.
- Sỏi bể thận: Tốt nhất những sỏi kích thước < 2 cm, sỏi bể thận hoặc nhóm đài trên, nếu nhóm đài dưới cổ đài phải rộng, góc tạo bởi cổ đài và bể thận phải > 900 để sỏi vỡ sau tán có thể theo nước tiểu ra ngoài được.
+ Nếu sỏi lớn hơn 2cm có thể tán được, phải đặt sond JJ và tán nhiều lần.
- Sỏi 1/3 trên niệu quản: Tán sỏi có kích thước < 1,5 cm, sỏi không quá cứng. Sỏi đã nằm lâu ở niệu quản (> 1 năm) thường có polyp bao bọc xung quanh, tán sỏi vỡ nhưng sỏi khó ra được.


3. Tán sỏi nội soi: 3.1. Tán sỏi nội soi ống cứng- Dùng ống soi niệu quản đi từ niệu đạo, lên bàng quang và lên niệu quản tiếp cận trực tiếp viên sỏi, dùng nguồn năng lượng bằng laser hoặc khí nén để phá vụn sỏi, bơm rửa lấy hết sỏi.
- Tán những sỏi 1/3 giữa và 1/3 dưới niệu quản đối với nam giới, ở nữ giới có thể tán sỏi cao hơn lên ngang đốt sống L3, L4.
+ Tán sỏi bằng khí nén tán được 80 - 90% loại sỏi. Sỏi to, quá cứng và có polyp khó tán. + Tán sỏi bằng Laser: Đang được thực hiện ở những nước phát triển thế giới, ưu việt hơn hẳn so với tán sỏi bằng khí nén và siêu âm. Laser có thể tán được mọi loại sỏi, kích thước < 2cm, nếu có polyp bao quanh sỏi có dùng laser để đốt polye và sau đó tán sỏi.
- Thời gian tán sỏi khoảng 50 phút, sau tán 2 ngày có thể ra viện, Bệnh nhân phục hồi sức khỏe nhanh chóng.
3.2. Tán sỏi bằng ống nội soi ống mềm: Máy có thể lên đến đài bể thận, chỉ định cho sỏi 1/3 trên niệu quản và sỏi bể thận. Dùng nguồn tán bằng Laser, có kết quả tốt tuy nhiên máy dễ hỏng, chi phí điều trị cao.


4. Lấy sỏi thận qua da: - Tạo đường hầm vào thận, và đưa ống nội soi vào tiếp cận sỏi. Phá vỡ sỏi bằng Laser hoặc khí nén hoặc siêu âm phá vỡ sỏi và lấy sỏi ra ngoài.
- Chỉ định cho sỏi bể thận. Sỏi có kích thước lớn, sỏi san hô, sỏi cứng, sỏi nhóm đài dưới.

5. Phẫu thuật nội soi lấy sỏi:
Chỉ định cho những sỏi bể thận, sỏi 1/3 trên niệu quản. Những sỏi lớn, mật độ chắc.

6. Phẫu thuật mổ mở: Tuy hiện nay có chỉ định ít hơn nhưng vẫn là phương pháp điều trị quan trọng. Áp dụng cho những sỏi thận, niệu quản kích thước lớn, chức năng thận kém.

7.Phẫu thuật bằng Robot: Thực hiện ở những nước phát triển, chỉ định cho những sỏi thận lớn, rút ngắn thời gian nằm viện (2 - 3 ngày), chi phí rất cao.

 PHÒNG BỆNH1. Uống nhiều nước > 1,5 lít nước/24h, tốt nhất uống nước để làm sao khi đi đái, nước tiểu trong là được. Nếu những người có sỏi nhỏ có thể uống thêm nước kim tiền thảo, bông mã đề,…
2. Điều trị viêm đường tiết niệu nếu có.
3. Hạn chế ăn các thức ăn có nhiều Canxi như tôm, cua, sữa, ...

Sỏi thận tiết niệu là một bệnh lý phức tạp, thường gây ra nhiều biến chứng. Vì vậy khi phát hiện ra sỏi thận tiết niệu, bệnh nhân nên đến ngay với bác sĩ chuyên khoa thận tiết niệu để được tư vấn và có biện pháp điều trị phù hợp.




thuoc chua benh soi than

Sỏi mật: nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Sỏi mật là một bệnh khá phổ biến ở Việt Nam, có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng phần lớn gặp ở tuổi từ 20 đến 50 tuổi, càng nhiều tuổi càng dễ bị sỏi mật. Bệnh gặp ở phụ nữ cao hơn gấp 4 – 6 lần so với nam giới. Về vị trí, Sỏi mật có thể ở trong gan, ở ống mật chủ hay ở trong túi mật. Về loại sỏi, có thể là sỏi Cholesterol hoặc sỏi sắc tố mật. Sỏi trong túi mật khó chữa hơn sỏi ở trong gan hay ở ống mật chủ. Sỏi mật có thể chữa bằng Đông y hoặc Tây y. Tây y thường dùng phương pháp mổ lấy sỏi, nhưng là phương pháp chữa "ngọn", không triệt để, nhiều tác dụng phụ. Đông y chữa sỏi mật đơn giản, không có tác dụng phụ và phòng được tái phát.

Sỏi mật là một bệnh của đường tiêu hoá do có sỏi trong đường mật, có thể phát sinh ở các ống dẫn mật trong gan, ở ống mật chủ hoặc ở túi mật, bởi sự xuất hiện sỏi cholesterol hoặc sỏi sắc tố mật. Sỏi mật là bệnh thường gặp ở Việt Nam. Tùy theo vị trí của sỏi, thành phần của sỏi mà người ta chia thành sỏi đường dẫn mật hoặc sỏi túi mật; Và tùy theo thành phần của sỏi mà người ta chia sỏi mật ra thành sỏi cholesterol hay sỏi sắc tố mật. Sỏi cholesterol do cholesterol kết tinh trong dịch mật, khi nồng độ cholesterol trong mật cao, nồng độ muối mật thấp, có sự ứ đọng dịch mật và một số nguyên nhân khác. Sỏi cholesterol thường đơn độc, không cản tia X và có màu nhạt. Sỏi sắc tố mật chủ yếu là calcium bilirubinate, sỏi có màu sậm, thường hình thành đám sỏi, cản tia X nhiều, hình thành khi bilirubine tăng, không liên hợp hoặc do bị nhiễm vi trùng, nhiễm ký sinh trùng đường mật. Trước đây, bệnh sỏi mật chủ yếu là sỏi sắc tố mật, sỏi thường nằm ở trong gan và ở ống mật chủ gây nhiễm khuẩn đường mật, còn sỏi túi mật chỉ chiếm dưới 10%. Nhưng ngày nay, tỷ lệ sỏi cholesterol lại tăng cao so với sỏi sắc tố mật và sỏi túi mật lại ngày càng nhiều, chiếm tới trên 50% trường hợp sỏi mật, có lẽ do chế độ dinh dưỡng và thói quen ăn uống của nhân dân ta đã thay đổi nhiều so với trước.
 

 

Nguyên nhân của bệnh sỏi mật

 Nguyên nhân sỏi cholesterol là do tuổi tác, ăn nhiều thức ăn có hàm lượng cholesterol cao, nhiều chất béo động vật, do phụ nữ sinh đẻ nhiều, biến chứng từ một số bệnh tiêu hoá như bệnh Crohn, cắt đoạn hồi tràng,... Các yếu tố thuận lợi tạo sỏi cholesterol là: Chế độ ăn nhiều chất béo và cholesterrol; do dùng thuốc estrogen, thuốc clofibrate; ở các bệnh nhân: xơ gan, cắt dạ dày, dùng thuốc octretide kéo dài, nuôi dưỡng lâu dài bằng đường tĩnh mạch, béo phì; dư thừa hoocmon nữ (Ơstrogen); sử dụng thuốc giảm cholesterol thường xuyên; bệnh tiểu đường; giảm cân quá nhanh; nhịn đói triền miên; nhiễm ký sinh trùng đường ruột…

Nguyên nhân sỏi sắc tố mật là do tuổi tác, ăn thiếu chất béo và protein, ứ đọng dịch mật, mật nhiễm trùng hoặc nhiễm ký sinh trùng, xơ gan, bệnh tán huyết, thiếu máu Địa Trung Hải, thiếu máu hồng cầu liềm… Các yếu tố thuận lợi cho hình thành sỏi sắc tố mật là nhiễm khuẩn đường mật, xơ gan, nhiễm trùng, ký sinh trùng (giun, sán…), đặc biệt hay gặp ở bệnh nhân bị giun chui ống mật gây nhiễm khuẩn đường gan mật...
 

Triệu chứng của bệnh sỏi mật

Tùy theo vị trí của sỏi mà có các triệu chứng có thể khác nhau. Thường thì nếu sỏi trong gan hay sỏi ở ống mật chủ thì ít triệu chứng, thậm chí nếu sỏi nhỏ, không gây tắc mật thì sẽ không có biểu hiện gì, chỉ khi tình cờ làm siêu âm hoặc chụp điện vùng gan mật mới phát hiện ra sỏi. Nhưng nếu sỏi to thì thường có các triệu chứng khá rầm rộ, mà điển hình là đau, sốt, vàng da (mà y học gọi là Tam chứng Charcot).

Đau: Trường hợp điển hình, người bệnh có cơn đau bụng gan, cụ thể: đau đột ngột, dữ dội vùng hạ sườn phải, lan lên vai phải hoặc ra sau lưng, đau làm người bệnh lăn lộn, không dám thở mạnh, kèm theo buồn nôn hoặc nôn. Có khi đau chỉ âm ỉ hoặc tức nặng ở hạ sườn phải, đôi khi đau ở vùng thượng vị, lan lên ngực. Các cơn đau thường xảy ra sau một bữa ăn thịnh soạn hoặc bữa ăn nhiều mỡ.

Sốt: khi bị nhiễm trùng đường mật, có thể sốt cao đột ngột kèm rét run, nhưng cũng có khi chỉ sốt nhẹ 37,5 độ – 38 độ C, có khi sốt kéo dài. Nếu không có nhiễm trùng thì không sốt.

Vàng da: Da và niêm mạc mắt vàng do tắc mật, xuất hiện khi sỏi ở ống mật chủ, ống gan hoặc trong gan, tùy theo mức độ tắc mật mà vàng nhẹ hay vàng đậm. Nếu chỉ có sỏi túi mật đơn thuần thì không gây vàng da.

Rối loạn tiêu hóa: Chậm tiêu, bụng đầy trướng, sợ mỡ, táo bón hoặc tiêu chảy.

Thăm khám lâm sàng: Nếu tắc mật sẽ thấy gan to, túi mật to, mật càng tắc nhiều, gan càng to. Sỏi túi mật không gây gan to. Chẩn đoán xác định cần dựa vào Tam chứng Charcot. Xét nghiệm có thể thấy tăng bạch cầu trong máu, bilirubin máu tăng khi có tắc mật. Siêu âm, chụp cắt lớp vi tính và chụp cộng hưởng từ rất có giá trị giúp chẩn đoán sỏi mật. Đối với sỏi túi mật, siêu âm là phương pháp ít tốn kém mà có giá trị cao trong chẩn đoán.
 

 

Điều trị bệnh sỏi mật
 

 Điều trị bằng Tây y

Trong điều trị sỏi mật, Tây y thường cho thuốc giảm đau, kháng sinh và phẫu thuật khi có biến chứng.

Với sỏi túi mật: người ta dùng thuốc làm tan sỏi, áp dụng đối với sỏi cholesterol dưới 1,5cm, tốt nhất với sỏi dưới 5 mm, thời gian dùng kéo dài 6 – 24 tháng. Ngày nay các bệnh viện hay tán sỏi bằng bằng sóng hoặc làm tan sỏi trực tiếp bằng hóa chất. Cũng có thể cắt túi mật qua đường nội soi, là phương pháp được dùng phổ biến hiện nay vì hồi phục sức khỏe nhanh và rút ngắn thời gian nằm viện. Cũng có thể cắt túi mật bằng "mổ phanh".

Với sỏi trong gan và ống mật chủ: có thể lấy sỏi qua nội soi ngược dòng cắt cơ oddi, phương pháp này giúp tránh được phẫu thuật. Cũng có thể tán sỏi ngoài cơ thể bằng sóng hoặc phẫu thuật để lấy sỏi.

Tuy nhiên, các phương pháp điều trị nêu trên chỉ là chữa “phần ngọn”, không giải quyết được tận gốc nên tỉ lệ sỏi tái phát rất cao và chi phí cho điều trị khá tốn kém, nhất là đối với những bệnh nhân nghèo.
 

 Điều trị bằng Đông y

Sỏi mật Y học cổ truyền gọi là chứng Thạch đởm. Đông y cho rằng Thạch đởm là do can uất khí trệ, ăn uống không điều độ hoặc do ngoại cảm thấp nhiệt mà thành bệnh. Theo chúng tôi, có thể lý giải nguyên nhân sinh bệnh, cơ chế phát sinh và cách gọi của Đông y khác Tây y, nhưng để chẩn đoán xác định cần dựa vào các phương tiện của y học hiện đại như đã trình bày ở phần trên. Tuy nhiên, về điều trị, dùng Đông y sẽ có kết quả rất tốt vì vừa không phải phẫu thuật, thuốc đơn giản, dễ uống, vừa có hiệu quả cao, đặc biệt chữa được tận gốc nên không sợ tái phát.

Bài thuốc gồm có 12 vị như sau:

-        Quả sung tươi                  50g (nếu khô 30g)
-          Nhân trần                         10g
-          Hoa Actisô                       10g
-          Lá Vọng cách                   10g
-          Diệp hạ châu                      8g
-          Râu ngô                               8g
-          Kê nội kim (màng mề gà) 10g
-          Nghệ vàng                         12g
-          Bạch truật                         12g
-          Đảng sâm                          20g
-          Thổ phục linh                     10g
-          Cam thảo                            8g


Tất cả làm thành 1 thang. Sắc 1 thang với 5 bát nước, thêm vào 5 lát gừng tươi, đun còn 2 bát, chắt ra. Đun thêm 2 lần, mỗi lần lấy 1 bát. Trộn chung cả 3 lần, cô lại còn 2 bát, chia đều uống trong ngày. Uống liên tục 25 – 30 thang, sau đó kiểm tra lại sỏi mật bằng siêu âm. Nếu đã hết sỏi, nghỉ một tháng lại uống thêm 5 thang để củng cố kết quả.

Bài thuốc trên có 3 tác dụng chính là làm tan sỏi (chủ yếu là Quả sung, Kê nội kim và Nghệ vàng), lợi mật, tống sỏi ra ngoài (chủ yếu là Râu ngô, Nhân trần, Diệp hạ châu, Vọng cách và Ý dĩ), bổ can, kiện tỳ để nâng chức năng gan giúp không hình thành sỏi mới (chủ yếu là Nhân trần, Actisô, Bạch truật...).
 

Ăn uống đối với người bị sỏi mật




Ăn giảm mỡ: ăn ít thực phẩm chứa nhiều cholesterol như phủ tạng động vật, trứng...; ăn tăng đạm như thịt, cá, sữa, hạt đậu các loại… để tăng tạo tế bào gan đã bị tổn thương, chống thoái hóa mỡ tế bào gan; ăn thức ăn giàu đường bột: Thức ăn này dễ tiêu, lại không ảnh hưởng đến mật, có nhiều chất xơ giúp tiêu hóa tốt, tránh táo bón; ăn các thức ăn có giàu vitamin C và nhóm B như rau, hoa quả tươi. Tỷ lệ giữa các chất dinh dưỡng đạm, đường, mỡ ở người bị sỏi mật tốt nhất nên là 1/5/0,5 (ở người trưởng thành bình thường là 1/5/0,75). Ăn các loại hạt ngũ cốc còn cả vỏ là rất tốt (như đậu hạt các loại, ngô, gạo lứt...) vì các nhà dinh dưỡng cho rằng hạt ngũ cốc cả vỏ là "khắc tinh" của bệnh tật.

Thức ăn nên dùng: Nước quả, hoa quả tươi các loại, rau tươi, bánh kẹo ít trứng bơ, các loại thịt cá nạc như thịt lợn thăn, thịt bò, cá quả, cá chép, các loại đậu đỗ như đậu tương, đậu xanh, đậu đen. Ngoài ra nên dùng một số thức ăn lợi mật như Nghệ, Lá chanh, lá Vọng cách, lá Đinh lăng và các thức kích thích túi mật co bóp nhẹ nhàng như bơ, dầu ô liu, dầu vừng, mỡ gà vịt.

Hạn chế dùng
: Trà, cà phê, cacao, chocolate; thịt cá có nhiều mỡ, dầu cọ, dầu dừa, phủ tạng động vật. Hạn chế ăn lòng đỏ trứng. Ngoài ra cần phải kiêng rượu, bia, thuốc lá. Hạn chế ăn gia vị đậm đặc, mỡ động vật. Tránh ăn quá no và tránh để quá đói. Lao động và vận động vừa sức. Tránh lo lắng, suy nghĩ, mất ngủ. Tránh cáu giận.
 

Phòng bệnh sỏi mật

Chế độ ăn uống và thói quen sinh hoạt có ảnh hưởng rất nhiều đến bệnh sỏi mật. Muốn không bị sỏi mật cần hạn chế ăn thức ăn có hàm lượng cholesterol cao, các chất béo động vật, hạn chế đẻ nhiều, năng vận động để không bị béo phì, chữa các bệnh có nguy cơ sỏi mật, tránh giảm cân quá nhanh, tránh nhịn đói triền miên, chữa kịp thời các bệnh nhiễm trùng và nhiễm ký sinh trùng đường tiêu hóa… Ăn nhiều rau, hoa quả, ăn cân đối khẩu phần, không nên ăn một loại thức ăn nhiều quá, cũng không nên quá kiêng khem. Khi bị bệnh sỏi mật cần điều trị kịp thời.





thuoc chua benh soi than

Chế độ ăn cho người sỏi thận

Người đã bị sỏi thận sẽ khó khỏi hẳn bệnh nếu không biết duy trì chế độ ăn uống thích hợp.

Chế độ ăn uống khi bị sỏi thận
Dưới đây là một vài thay đổi trong chế độ ăn uống giúp chống sỏi thận:
- Uống nhiều chất lỏng
Uống 8-10 ly nước mỗi ngày giúp giữ cho nước tiểu loãng - làm giảm nồng độ khoáng chất hình thành “đá” trong nước tiểu. Ít nhất một nửa số nước uống hàng ngày nói trên là nước lọc, còn lại có thể là các loại nước uống khác mà bạn thích.
- Giảm lượng muối ăn
Giảm muối (sodium) trong chế độ ăn uống giúp giảm lượng canxi trong nước tiểu, làm giảm xu hướng hình thành sỏi canxi. Chế độ ăn giảm muối tốt nhất nên thực hiện là không thêm muối vào thức ăn và tránh những thực phẩm natri cao như thịt chế biến, thực phẩm ăn nhanh nhiều muối (thường xuyên, súp đóng hộp, đóng hộp, mì hoặc cơm trộn) và đồ ăn nhẹ mặn.


- Đảm bảo chế độ ăn uống chứa canxi đầy đủ
Vài năm trước đây, người ta tin rằng nên giới hạn chế độ ăn uống có canxi vì nó có thể làm cho bệnh của bệnh nhận bị sỏi thận canxi thêm trầm trọng. Nhưng các nghiên cứu ngày nay cho thấy rằng, chế độ ăn đầy đủ hàm lượng canxi mỗi ngày thực sự có tác dụng làm giảm tỷ lệ bị sỏi thận canxi. Những người hình thành sỏi canxi oxalate nên bổ sung 800 mg canxi trong chế độ ăn uống hàng ngày, không chỉ để phòng ngừa sỏi thận mà còn để duy trì mật độ xương. Một cốc sữa ít chất béo có chứa 300 mg canxi. Các sản phẩm sữa khác như sữa chua cũng giàu canxi.
- Tránh những loại thực phẩm có thể làm tăng lượng axit uric hoặc oxalate trong nước tiểu
Axit oxalic hoặc oxalat được tìm thấy chủ yếu trong các thực phẩm từ thực vật. Nhưng chỉ có một số làm tăng số lượng oxalate trong nước tiểu. Đó là rau bina, dâu tây, sô-cô-la, cám lúa mì, hạt, củ cải đường, và trà... Tránh những thực phẩm này có thể giúp giảm số lượng oxalate trong nước tiểu. Ăn những thực phẩm có chứa canxi cũng làm giảm oxalate trong nước tiểu. Canxi liên kết với oxalate trong đường tiêu hóa, do đó nó không được bài tiết vào nước tiểu.
  - Giảm vitamin C
Cơ thể chuyển đổi vitamin C thành oxalate tăng hình thành sỏi thận. Vì vậy, nếu các bác sĩ đã đề nghị giảm oxalat trong chế độ ăn, uống vitamin C bổ sung không phải là một ý tưởng tốt. Các bác sĩ khuyên những bệnh nhân bị sỏi thận không nên uống quá 500 mg vitamin C mỗi ngày. Một người có nguy cơ bị sỏi thận nên tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên viên dinh dưỡng trước khi dùng liều lớn vitamin hoặc khoáng chất.'


 - Hạn chế đường và protein động vật
Quá nhiều đường và protein động vật cũng có thể làm trầm trọng thêm sự phát triển của sỏi oxalat canxi hoặc canxi. Mặc dù đường tự nhiên có trong thực phẩm cũng phải phải là điều đáng lo lắng, nhưng những người bị sỏi thận nên tránh những thực phẩm đóng gói chứa nhiều đường là tốt nhất.
Thịt và protein động vật khác - chẳng hạn như trứng và cá cũng nên hạn chế vì chúng chứa purin sẽ phân hủy thành acid uric trong nước tiểu. Thực phẩm đặc biệt giàu purin bao gồm các thịt nội tạng, như gan. Vì vậy, những người có xu hướng phát triển sỏi thận nên tránh ăn nhiều protein hơn so với cơ thể cần mỗi ngày.
- Bổ sung chất xơ không hòa tan
Chất xơ là một phần khó tiêu hóa của thực vật. Có hai loại chất xơ: hòa tan (tan trong nước) và không hòa tan. Cả hai đều cung cấp các chức năng quan trọng trong cơ thể. Chất xơ không hòa tan (tìm thấy trong lúa mì, lúa mạch đen, lúa mạch, và gạo) có thể giúp làm giảm canxi trong nước tiểu. Nó kết hợp với canxi trong ruột, để canxi được bài tiết phân thay vì thông qua thận. Chất xơ không hòa tan cũng tăng tốc độ chuyển động của các chất thông qua ruột, vì vậy sẽ có ít thời gian hơn cho canxi được hấp thụ.
Vì vậy, tạo một thói quen ăn trái cây và rau hàng ngày trong thức ăn của bạn. Nó chắc chắn sẽ giúp bạn để chữa bệnh sỏi thận hiện có cũng như ngăn cản bạn từ các vấn đề sỏi thận trong tương lai.
 
thuoc chua benh soi than

Sunday, October 27, 2013

Thực thẩm giúp tống xuất sỏi thận khỏi cơ thể


Một số loại thực phẩm có tác dụng làm vỡ sỏi và tống xuất chúng ra khỏi cơ thể. Thường xuyên ăn những loại thực phẩm này là cách để bạn loại bỏ sỏi thận.
Sỏi thận là căn bệnh khá phổ biến. Chúng phát triển trong cơ thể do nhiều nguyên nhân khác nhau. Chế độ ăn uống và lối sống đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển sỏi thận.
Sau đây là những loại thực phẩm các tác dụng loại bỏ sỏi thận ra khỏi cơ thể.

Trái cây họ cam quýt
Những loại trái cây như cam, chanh, bưởi và những loại trái cây họ cam quýt khác rất có lợi trong việc điều trị bệnh sỏi thận. Những loại trái cây này có chứa axit citric, một loại chất có vai trò quan trọng trong việc phá hủy và “trục xuất” sỏi ra khỏi cơ thể.
Có điều này do axit citric bao quanh các viên sỏi. Điều này có nghĩa là chúng sẽ làm viên sỏi không thể phát triển to hơn nữa và cứ tiếp tục bao quanh viên sỏi cho đến khi nó bị phá hủy. Axit citric là một hợp chất mạnh và làm phá hủy sỏi thận ở mức độ ổn định. Chỉ trong một thời gian ngắn, những viên đá sẽ bị phân hủy và đi ra ngoài cơ thể qua nước tiểu.
 

Thực phẩm giàu chất xơ
Thực phẩm giàu chất xơ rất có lợi trong việc điều trị sỏi thận. Loại thực phẩm này có tác dụng làm sạch cơ thể từ bên trong nếu được tiêu thụ ở một lượng phù hợp. Yến mạch và các loại ngũ cốc là nguồn chất xơ tuyệt vời. Những loại thực phẩm giàu chất xơ thúc đẩy quá trình bài tiết trong cơ thể và quá trình này sẽ giúp đẩy các viên sỏi ra khỏi thận. Tuy nhiên, những loại ngũ cốc nguyên hạt sẽ có tác dụng tốt hơn so với loại tinh chế.
Những loại trái cây và rau có hàm lượng chất xơ cao cũng là loại thực phẩm nên có trong chế độ ăn của các bệnh nhân sỏi thận, bởi chúng cũng sẽ giúp các viên sỏi nhanh chóng bị đẩy ra ngoài cơ thể.

 

Nước ép quả nam việt quất
Nước ép của quả nam việt quất là phương thuốc phổ biến được sử dụng trong việc điều trị bệnh sỏi thận. Quả nam việt quất có hàm lượng axit cao, vì vậy mà chúng có tác dụng rất lớn trong việc điều trị sỏi thận. Quả nam việt quất tươi hay nước ép của nó đều đã được các nhà khoa học chứng minh là có tác dụng rất lớn đối với bệnh nhân sỏi thận. Chúng khiến các viên sỏi thận bị phá vỡ và sau đó là tống xuất chúng ra khỏi cơ thể.
Quả nam việt quất cũng có tác dụng ngặn chặn sự phát triển của những viên sỏi. Trong hầu hết các trường hợp những viên sỏi này được phân hủy và đưa ra ngoài cơ thể quá nước tiểu. Quả nam việt quất là một loại trái cây dễ ăn, vì vậy hãy thường xuyên sử dụng chúng.
 



thuoc chua benh soi than

Người bị sỏi thận nên kiêng

Uống nhiều nước chanh không chỉ giúp giải khát mà còn là 1 cách đơn giản để chống lại sự lắng đọng sỏi ở những người bị sỏi thận.

Sự lắng đọng và kết tủa dần dà của sỏi có thể xảy ra qua thời gian dài không riêng gì mùa nóng. Tuy nhiên, vào mùa nóng, lượng nước mất qua đường mồ hôi nhiều, cơ thể có khuynh hướng thiếu nước, nước tiểu đậm đặc hơn nên dễ có khuynh hướng tạo sỏi và những viên sỏi đang tồn tại dễ phát triển.

 

Nước chanh chữa sỏi thận

Quan trọng nhất trong số những chất có chức năng hòa tan nhiều loại chất khoáng có khuynh hướng kết tủa thành sỏi là citrate và quả chanh là nguồn rau quả tự nhiên có hàm lượng cao nhất hoạt chất này.

Một nghiên cứu tại Trung tâm sỏi thận tổng hợp Trường Đại học California ở San Diego cho biết: uống nước chanh hàng ngày là một phương pháp đơn giản để chống lại việc tạo thành những viên sỏi ở thận hoặc đường tiểu. Theo TS. Roger L. Sur, Giám đốc Trung tâm, uống 120ml nước chanh pha với với 2 lít nước mỗi ngày đã giảm tỉ lệ tạo sỏi từ 1 xuống còn 0,13 viên ở những bệnh nhân đã bị sỏi thận.

Trước đây, một nghiên cứu của các nhà khoa học Trường Đại học Duke cũng cho thấy uống nước chanh có vai trò ngăn chặn việc tái phát sỏi thận. Trong thử nghiệm này, 12 bệnh nhân sỏi thận được cho dùng thêm nước chanh trong chế độ ăn uống hàng ngày trong 4 năm. Kết quả cho thấy những người này đã giảm đi hiện tượng phát triển sỏi và không ai trong số này phải dùng thêm thuốc để điều trị sỏi trong suốt thời gian trên.

Ngoài citrate, thường uống nước chanh còn có tác dụng cung cấp lượng nước đủ để giảm nồng độ của các muối khoáng trong nước tiểu. Do đó, các chuyên gia khuyến cáo nên uống đủ để có tối thiểu từ 1,5 - 2 lít nước tiểu mỗi ngày.

Tránh ăn mặn và quá nhiều chất đạm

Ngoài việc uống nước chanh, tránh ăn mặn và không nên ăn quá nhiều chất đạm là 2 yêu cầu quan trọng đối với người bị sỏi thận. Muối ăn gia tăng nguy cơ lắng đọng sỏi. Do đó, người bệnh cần lưu ý tránh những thực phẩm công nghiệp có hàm lượng muối cao và giảm muối trong nêm nếm. Ăn nhiều đạm vừa buộc thận phải làm việc quá sức vừa làm gia tăng một số chất cặn bã có khuynh hướng lắng đọng trong nước tiểu. Do đó, người bị sỏi thận không nên ăn quá 100g cá, thịt mỗi ngày
 




thuoc chua benh soi than

Hội chứng thận hư và cách điều trị

Hội chứng thận hư (HCTH) là hội chứng lâm sàng và sinh hóa xuất hiện ở nhiều bệnh do tổn thương ở cầu thận, đặc trưng bằng những dấu hiệu sau: Phù, Protein niệu cao, Protein máu giảm, Lipid máu tăng.

Tiêu chuẩn chẩn đoán:
1. Phù: Phù mặt, chi dưới; có thể phù toàn thân kèm theo cổ chướng và tràn dịch màng phổi.
2. Protein niệu cao > 3,5g/24 giờ.
3. Protein máu giảm < 60g/lít, Albumin máu < 30g/lít.
4. Rối loạn lipid máu: lipid máu tăng > 9g/lít, cholesterol tăng > 6,5mmol/lít, triglycerid > 2,3mmol/lít.
5. Có hạt mỡ lưỡng chất, trụ mỡ trong nước tiểu.
Trong đó các tiêu chuẩn 2 và 3 bắt buộc phải có.
 

Nguyên nhân dẫn tới HCTH
Có 2 nguyên nhân:
- Nguyên nhân nguyên phát ở cầu thận.
- Nguyên nhân thứ phát do các bệnh toàn thể hoặc những trường hợp bệnh lý khác dẫn đến.
- Ở người lớn, khoảng 80% viêm cầu thận không biết rõ nguyên nhân, còn lại là kết hợp với bệnh hệ thống hay bệnh lupus ban đỏ, tiểu đường và thận dạng bột.
Bệnh sinh của HCTH chưa được hiểu biết đầy đủ. Về giải phẫu bệnh học thì tổn thương ở màng đáy cầu thận là chủ yếu. Bình thường màng đáy không cho các phần tử lớn như protein đi qua. Khi có một nguyên nhân nào đó làm màng đáy bị tổn thương, điện thế của màng đáy bị thay đổi thì protein lọt qua được. Protein niệu càng nhiều thì protein máu càng giảm. Albumin ra nhiều nhất (80%) làm giảm áp lực keo của huyết tương, nước thoát ra ngoài lòng mạch. Hậu quả là gây phù và giảm thể tích tuần hoàn hiện dụng. Từ đó một mặt trực tiếp gây tái hấp thu nước và Natri ở ống lượn gần, mặt khác gián tiếp qua hệ thống điều hòa nội tiết làm tăng ADH và Aldosteron. ADH tăng sẽ tái hấp thu nước ở ống góp, Aldosterol tăng sẽ tái hấp thu Na+ và nước ở ống lượn xa và ống góp. Kết quả của quá trình trên là cơ thể giữ Natri và giữ nước, do đó sẽ tiểu ít và dẫn tới phù toàn thân, kéo theo các rối loạn nước và điện giải. Về thành phần lipid máu tăng thì chưa có giải thích đầy đủ. Có giả thuyết cho rằng lipid, cholesterol máu trong HCTH là một yếu tố gây xơ hóa cầu thận và dẫn đến suy thận.
Khi mắc HCTH, bệnh nhân thường bị suy dinh dưỡng do thiếu protein - năng lượng do mất nhiều protein qua đường nước tiểu kèm theo chán ăn do giảm dịch ruột, phù gan và nội tạng. Ngoài ra ăn kém do cảm thấy căng trướng do bị cổ chướng. HCTH kéo dài sẽ dẫn đến tiêu cơ bắp, rụng tóc. Tình trạng thiếu dinh dưỡng còn góp phần làm tăng tình trạng mắc các bệnh nhiễm khuẩn trong HCTH như: Viêm phúc mạc tiên phát, viêm phổi, viêm cơ, lao phổi... Cho nên ngoài việc điều trị bằng thuốc, chế độ ăn trong HCTH cũng đóng vai trò hết sức quan trọng giúp cơ thể tăng sức đề kháng và chống lại các rối loạn về thành phần sinh hóa trong máu.

Điều trị:
- Mục đích làm giảm các triệu chứng, ngăn ngừa biến chứng, làm chậm tổn thương thận, thường tập trung điều trị vào các nguyên nhân cơ bản như phù nề, huyết áp cao, cholesterol cao, nguy cơ nhiễm trùng.
- Giữ huyết áp dưới 130/80 mmHg làm chậm tổn thương thận. Thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACE) hoặc thuốc chẹn thụ thể angiotensin (ARB) là thuốc được sử dụng thường xuyên nhất. Chất ức chế ACE cũng có thể giúp làm giảm lượng protein bị mất trong nước tiểu.
- Thuốc statin có thể làm giảm lượng cholesterol trong máu, tránh nguy cơ về ti mạch.
- Có thể dùng thuốc làm loãng máu khi điều trị hoặc phòng ngừa cục máu đông ở thận.
- Sử dụng thuốc lợi tiểu.
- Ăn ít muối hơn để giảm phù nề, tránh dùng  thức ăn quá nhiều chất béo.
- Ăn ít protein hơn ( nên 1gam protein trên 1kg trọng lượng cơ thể).
- Đôi khi cần dùng thêm vitamin D khi điều trị lâu dài, hoặc không đáp ứng điều trị.
 
 Biến chứng:
- Suy thận cấp tính.
- Xơ vữa động mạch và bệnh động mạch vành.
- Bệnh thận mạn tính.
- Tình trang quá tải dịch, Suy tim sung huyết, phù phổi.
- Nhiễm trùng, bao gồm phế cầu khuẩn viêm phổi.
- Suy dinh dưỡng.
- Thận huyết khối tĩnh mạch.
- Suy giáp.
- Thiếu máu.
- Cao huyết áp.

Các nguyên tắc trong xây dựng chế độ ăn cho bệnh nhân bị HCTH:
1. Giàu chất đạm (protein): Do mất nhiều protein qua nước tiểu, làm giảm protein máu, giảm áp lực keo gây phù, teo cơ, suy dinh dưỡng, do đó chế độ ăn phải bù đủ lượng đạm cho chuyển hóa của cơ thể và số lượng đạm mất qua nước tiểu, nhưng cũng không nên ăn quá nhiều đạm vì có thể sẽ làm xơ hóa cầu thận dẫn đến suy thận.
Lượng đạm trung bình 1 ngày = 1g/kg/ngày + lượng protein mất qua nước tiểu trong 24 giờ. Trong đó 2/3 là đạm động vật có giá trị sinh học cao từ thịt, cá, tôm, cua, trứng, sữa. 1/3 là đạm thực vật từ gạo, mì, đậu đỗ...
2. Năng lượng: Ðảm bảo đủ năng lượng từ 35-40kcalo/kg/ngày.
3. Chất béo: Nên ăn giảm chất béo (20-25g/ngày). Do rối loạn chuyển hóa lipid máu, tăng cholesterol, vì vậy không nên ăn các loại thực phẩm chứa nhiều cholesterol như óc, lòng, các loại phủ tạng động vật, bơ, mỡ, trứng. Ðặc biệt nên tránh quan niệm "ăn thận bổ thận", vì trong thận (bầu dục) có chứa nhiều cholesterol.
Khi chế biến thức ăn nên hấp, luộc; Hạn chế xào, rán, quay. Nên dùng các loại dầu thực vật như: Dầu đậu tương, dầu hạt cải, dầu lạc, dầu vừng để thay thế mỡ.
4. Các vitamin, muối khoáng và nước:
- Lượng nước trong chế độ ăn và uống hàng ngày bằng lượng nước tiểu + 500ml.
- Ăn nhạt, bớt muối, mì chính: 1-2g muối/ngày.
- Ăn nhiều các loại thực phẩm có chứa nhiều vitamin C, beta caroten, vitamin A, selenium (như các loại rau xanh, quả chín có màu đỏ và vàng: đu đủ, cà rốt, xoài, giá đỗ, cam...) vì các loại vi chất dinh dưỡng nêu trên có tác dụng chống oxy hóa, chống tăng các gốc tự do - là những chất gây xơ hóa cầu thận, chóng dẫn đến suy thận. Trong những trường hợp tiểu ít và có kali máu tăng thì phải hạn chế rau quả.

Những thực phẩm nào nên dùng cho bệnh nhân HCTH?
1. Chất đường bột: Các loại gạo, mì, khoai sắn đều dùng được.
2. Chất béo: Các loại dầu thực vật (dầu đậu tương, dầu mè, lạc vừng...).
3. Chất đạm:
- Ăn thịt nạc, cá nạc, trứng sữa, đậu đỗ...
- Nên sử dụng sữa bột tách bơ (sữa gầy) để tăng cường lượng đạm và calci.
4. Các loại rau quả:
Ăn được tất cả các loại rau quả như người bình thường, trừ trường hợp tiểu ít thì phải hạn chế rau quả.
 

Những thực phẩm không nên dùng hoặc hạn chế dùng cho bệnh nhân bị HCTH
1. Chất bột đường: Không cần kiêng một loại nào.
2. Chất béo:
- Giảm số lượng, hạn chế ăn mỡ động vật.
- Nên chế biến bằng cách hấp, luộc; Hạn chế xào, rán.
3. Chất đạm:
- Không sử dụng các phủ tạng động vật như tim, gan, thận, óc, dạ dày...
- Hạn chế trứng: 1-2 quả/tuần.
4. Các loại rau quả:
- Nếu bệnh nhân không tiểu được thì không nên ăn các loại quả có hàm lượng Kali cao như cam, chanh, chuối, dứa, mận...

Số lượng thực phẩm nên dùng trong một ngày
1. Gạo tẻ: 250-300g.
2. Thịt nạc hoặc cá nạc: 200g, hoặc thay thế bằng 300g đậu phụ.
3. Dầu ăn: 10-15g.
4. Rau: 300-400g.
5. Quả: 200-300g.
6. Muối ăn: 2-4g.
7. Sữa bột tách bơ: 25-50g.
8. Ðường: 10g.
Lưu ý: Ăn nhạt hoàn toàn trong giai đoạn phù; Khi hết phù có thể ăn 2 thìa cà phê nước mắm 1 ngày.




thuoc chua benh soi than

Friday, October 25, 2013

Ăn bằng bát nhựa tăng nguy cơ gây sỏi thận

Một nghiên cứu mới phát hiện, ăn thực phẩm nóng đựng trong các món đồ melamine này có thể gây hại cho sức khỏe.

Bát đĩa làm bằng nhựa phíp (nhựa melamine) từ lâu đã được nhiều người tiêu dùng, đặc biệt là các bậc cha mẹ có con nhỏ, ưa chuộng vì hàng loạt ưu điểm như nhẹ, mẫu mã đẹp, đa dạng, lại rẻ và ít vỡ hơn so với đồ sành sứ. 

Các nhà nghiên cứu Đài Loan khám phá ra rằng, nhiệt độ cao sẽ làm tăng lượng melamine người dùng tiếp xúc khi sử dụng bát đĩa bằng nhựa phíp. Và điều đó sẽ kéo theo nguy cơ bị sỏi thận tăng cao.
Nhóm nghiên cứu đã cho những người tình nguyện ăn súp mỳ ống nóng theo hai cách khác nhau: Một nhóm ăn mỳ đựng trong các bát làm từ nhựa phíp, nhóm còn lại sử dụng bát sứ đựng mỳ.
Các chuyên gia sau đã thu thập mẫu nước tiểu của các đối tượng nghiên cứu trước khi ăn mỳ nóng và cứ 2 giờ một lần trong suốt 12 tiếng đồng hồ sau bữa ăn đó.


3 tuần sau, những người tình nguyện lại được yêu cầu ăn súp mỳ ống nóng, nhưng lần này 2 nhóm đổi kiểu bát đựng cho nhau. Các mẫu nước tiểu của họ tiếp tục được thu thập lại.
Chia-Fang Wu, người đứng đầu nghiên cứu đến từ Trường Y Kaohsiung (Đài Loan), nhấn mạnh: “Bộ đồ ăn làm bằng nhựa melamine (nhựa phíp) có thể thôi ra lượng lớn melamine khi được dùng để đựng thực phẩm có nhiệt độ cao”.
Ông Wu cho biết, cả đồ ăn nóng (như canh, súp, …) và có tính axít cao đều có thể tạo điều kiện thuận lợi cho melamine từ đồ nhà bếp, đặc biệt là những món đồ cũ và chất lượng thấp, gây nhiễm độc thực phẩm.
Tuy nhiên, nhà nghiên cứu này lưu ý thêm rằng, lượng melamine thôi ra từ các món đồ nhà bếp và ngấm vào thực phẩm cũng như đồ uống là khác nhau, tùy vào hãng sản xuất. Dẫu vậy, phát hiện của ông và các cộng sự ám chỉ rằng, để an toàn, chúng ta không nên dùng đồ nhựa phíp để đựng thức ăn nóng.
Các nghiên cứu trước đây từng chỉ ra sự liên quan giữa việc tiếp xúc với melamine ở liều lượng thấp nhưng lâu dài với nguy cơ mắc sỏi thận tăng cao ở cả người lớn và trẻ em.
Các nghiên cứu về sự độc hại của melamine ở động vật cũng cho thấy, việc hấp thụ hóa chất này có thể gây sỏi thận, tổn thương thận và cuối cùng dẫn đến ung thư. Năm 2008, một loại sữa bột nhiễm độc melamine ở hàm lượng cao đã dẫn tới cái chết của 6 em nhỏ và làm hơn 50.000 trẻ khác phải nhập viện vì sỏi thận và bệnh thận ở Trung Quốc.


thuoc chua benh soi than