Sunday, November 24, 2013

Viêm bể thận

Viêm thận bể thận là gì?
* Khi nhiễm khuẩn tiết niệu đã lên tới bể thận vào tổ chức kẽ thận thì được gọi là viêm thận bể thận (VTBT).
* Khi VTBT bị lần đầu tiên hoặc tái phát nhưng chưa có những biểu hiện nghĩ đến xơ hoá kẽ, với những triệu chứng lâm sàng rầm rộ: sốt cao, rét run, đau hông lưng kèm đái buốt, đái rắt, VK niệu (+), BC niệu và protein niệu (+) thì được gọi là VTBT cấp.
* Khi VTBT cấp tái phát nhiều lần hoặc âm ỉ kéo dài gây xơ hoá tổ chức kẽ thận, làm giảm chức năng cô đặc, lâu dài có thể gây xơ hoá cả cuộn mao mạch cầu thận, gây giảm chức năng lọc, gọi là VTBT mạn.



 Nguyên nhân:

- Vi khuẩn: Gram (-) chiếm hơn 90%, thường gặp là E.coli (60-70%), Klebsiella (20%); vi khuẩn Gram (+) chỉ dưới 10% như enterococcus (2%), Staphylococcus (1%).
- Các nguyên nhân thuận lợi là nguyên nhân gây tắc nghẽn đường bài xuất nước tiểu, gây ứ trệ dòng nước tiểu, tạo điều kiện cho nhiễm trùng và khi đã có nhiễm trùng thì duy trì nó.
Thường gặp là sỏi, u thận tiết niệu, u bên ngoài đè ép vào niệu quản, u TLT, dị dạng thận niệu quản, thận đa nang, thai nghén…

Triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng:
1. Toàn thân.
- Biểu hiện rầm rộ, suy sụp nhanh.
- Sốt cao, rét run, môi khô, lưỡi bẩn, có thể có dấu hiệu mất nước do sốt.
- Trường hợp nặng: có bệnh cảnh của nhiễm trùng huyết: sốt cao liên tục, rét run, có gan lách to, ổ di bệnh nơi khác…
2. Triệu chứng lâm sàng.
- Đau hông lưng:
+ Đau vùng hố sườn lưng, 1 bên hoặc 2 bên.
+ Có khi đau dữ dội, thường là đau tức âm ỉ.
+ Đau lan xuống dưới (bộ phận sinh dục ngoài)
+ Vỗ hông lưng (+) là 1 triệu chứng rất có giá trị, nhất là trong trường hợp chỉ đau 1 bên.
+ Nhiều trường hợp có cơn đau quặn thận do sỏi.
+ Khám có thể thấy thận to, chạm thận, bập bềnh thận (+).
- Hội chứng bàng quang.
+ Thường có nhưng không phải trường hợp nào cũng có.
+ Đái buốt, đái dắt, đái máu, đái mủ cuối bãi. Tuy nhiên, hội chứng bàng quang có thể xuất hiện trước khi có viêm thận bể thận cấp. Khi có triệu chứng của viêm thận bể thận cấp thì triệu chứng viêm bàng quang đã đỡ làm bỏ qua chẩn đoán.
3. Triệu chứng cận lâm sàng.
3.1 Nước tiểu.
- Đục, có thể có mủ đại thể rõ.
- Đái máu có thể đại thể hoặc vi thể.
- Bạch cầu niệu nhiều.
- Protein niệu có nhưng lượng rất ít (thuờng dưới 1g/24h) hoặc dương tính +, ++.
- Vi khuẩn niệu ≥ 100.000 vk/ml nước tiểu. Thành phần VK (như trên).
3.2 Máu.
- Bạch cầu tăng, đa nhân trung tính tăng.
- Khi ure, creatinin máu tăng cao là có suy thận cấp hoặc đợt cấp của suy thận mạn.
- Cấy máu khi sốt > 38o5 có thể thấy (+).
3.3. Siêu âm thận: thận hơi to hơn bình thường, đài bể thận giãn ít hoặc nhiều, đôi khi thấy ổ viêm trong nhu mô thận, hoặc thấy nguyên nhân thuận lợi như sỏi, dị dạng đường tiểu…
3.4. X-quang:
- Chụp bụng không chuẩn bị nếu nghi ngờ có sỏi .
- UIV chỉ chụp trong giai đoạn cấp khi nghi ngờ có nguyên nhân thuận lợi gây tắc nghẽn đường bài xuất nước tiểu (tắc nghẽn niệu quản).
 
4. Tiến triển.
- Tiến triển thường tốt nếu điều trị kháng sinh đúng và đủ liều, các triệu chứng lâm sàng thường khỏi nhanh, nhiệt độ giảm, đái tốt lên. BC niệu giảm, BC máu cũng giảm.
- Nước tiểu trở lại bình thường sau 1 đến 2 tuần.
- Nếu điều trị không đúng, nhất là không đủ liều thì biến chứng lâu dài có thể là:
+ Tái phát nhiều lần.
+ Chuyển thành mạn tính, tăng huyết áp, suy thận.
Điều quan trọng là phải loại bỏ được các yếu tố thuận lợi gây bệnh như sỏi, u tiền liệt tuyến… bệnh có thể khỏi hoàn toàn. Nếu không bệnh có thể nặng gây biến chứng hoại tử núm thận gây suy thận cấp, hoặc NKH, sốc nhiễm khuẩn.

Chẩn đoán xác định:
Dựa vào các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng trên nhưng chủ yếu là sốt cao, rét run, đái buốt, đái dắt, tức hố lưng, có nhiều bạch cầu niệu, có vi khuẩn niệu và protein niệu.
Cần phân biệt với đợt cấp của viêm thận bể thận mạn, dựa vào:
- Tiền sử NKTN tái phát nhiều lần
- Có nguyên nhân thuận lợi như sỏi tiết niệu…
- Có những biểu hiện của viêm thận bể thận mạn như giảm khả năng cô đặc nước tiểu, suy chức năng lọc mạn tính, tăng huyết áp…
- Chụp phim UIV đài thận tù vẹt, bể thận giãn.

Điều trị VTBT cấp.
1. Chống nhiễm khuẩn.
1.1. Nguyên tắc dùng kháng sinh.
- Liều cao, ít nhất là 1 kháng sinh đường TM phối hợp với 1 KS uống trong giai đoạn có sốt
- Cấy VK trước khi dùng KS. Trong khi chờ kết quả cấy VK và KS đồ, cần cho KS ngay. Nếu sau vài ngày điều trị, triệu chứng không bớt, sẽ chỉnh KS theo kết quả cấy VK và KS đồ.
- Thời gian dùng KS ít nhất là 2 tuần. Trong trường hợp VK đặc biệt như trực khuẩn mủ xanh hoặc tụ cầu vàng, hoặc ổ viêm khởi đầu từ ở tuyến tiền liệt, KS có thể kéo dài 1 tháng hoặc hơn tùy trường hợp.
- Thường phối hợp nhóm b-lactamin và Aminoglycosid hoặc Fluoroquinolone (có điều chỉnh tùy theo chức năng thận).
1.2. Các KS thường dùng hiện nay cho VTBT cấp:
- Nhóm Fluoroquinolone: (tốt nhất) Pefloxacine (Peflacin), ofloxacin (Oflocet), ciprofloxacin (Ciflox), norfloxacin (Noroxine)
- Nhóm Cephalosporin thế hệ II, III: Cefuroxime (Zinnat), cefoperazone (Cefobis), ceftazidime (Fortum), ceftriaxone (Rocephine), cefepime (Axepim)…
- Nhóm Aminosid:Amikacin, gentamycin, tobramycin, kanamycin.
- Nhóm b-lactamine: Ampicilline, amoxicilline, amoxicilline + a.clavulanic (Augmentin), ampicilline + Sulbactam (Unasyn).

1.3. Một số phác đồ điều trị.
- Phác đồ 1:
+ 10 ngày đầu dùng: Ampicilline 1g x 6 lọ/ngày (tiêm TM chia 3 lần). Gentamycine 80mg x 2 lọ/ngày (tiêm bắp chia 2 lần)
+ 10 ngày sau dùng: Amoxicilline 0.5g x 6 viên/ ngày. Biseptol 0.48g x 2-4 viên/ngày 
+ Nghỉ 5 ngày KS, cấy lại VK niệu (-), UIV không có tổn thương thì coi như khỏi hẳn
- Phác đồ 2:
+ Trong 3-5 ngày đầu có sốt: Peflacin 400mg x 2 lọ (truyền TM chia 2 lần)
 Augmentin 500 mg x 3-4 viên/ngày
+ Khi hết sốt 1-2 ngày, duy trì Augmentin uống cho đủ 3 tuần (trung bình 3 viên/ngày, người già: 2 viên/ngày).
+ Cấy lại VK và chụp UIV sau 5 ngày điều trị để đánh giá lại kết quả.
- Phác đồ 3:
+ Claforan hoặc Cefobis 1g x 2 lọ (truyền hoặc tiêm TM) chia 2 lần
+ Norfloxacin hoặc Peflacin 400 mg x 2 viên/24h hoặc Oflocet 200 mg x 2 viên/24h
Sau 5 ngày nếu hết sốt, duy trì bằng KS uống cho đủ 3 tuần.
2. Dẫn lưu nước tiểu khi có tắc nghẽn: đặt catheter niệu quản hoặc mở bể thận qua da.
3. Điều trị tháo tắc (điều trị nguyên nhân):
- Tán sỏi, lấy sỏi qua nội soi hay mổ.
- Điều trị hẹp niệu quản hay gỡ bỏ tắc (từ ngoài ép vào).
- Điều trị trào ngược bàng quang – niệu quản.
- Điều trị U phì đại TLT bằng phẫu thuật nội soi hoặc laser.
4. Cắt bỏ thận khi ứ mủ, dẫn lưu hố thận, dẫn lưu ổ abcess.
5. Dinh dưỡng:
- ăn nhẹ, uống nhiều nước, uống nước lọc, nước quả trong những ngày đầu để tăng tốc độ đào thải VK qua nước tiểu. Nếu có vô niệu thì kiêng rau quả và hạn chế nước.
- Bù nước, điện giải bằng đường TM nếu mất nước nhiều.
- Nếu có suy thận thì phải cho chế độ ăn giảm đạm.
6. Phòng bệnh: giữ vệ sinh cá nhân thật tốt, tránh dùng thủ thuật soi bàng quang, thông tiểu khi không cần thiết. 



thuoc chua benh soi than

Triệu chứng viêm thận – bể thận cấp tính

Nhiễm khuẩn tiết niệu là một bệnh lí rất thường gặp đặc biệt là ở nữ giới. Khi nhiễm khuẩn tiết niệu lên tới đài bể thận và tổ chức kẽ thân gây viêm thì lúc này được gọi là viêm thận – bể thận. Bệnh này được chia ra làm hai dạng là viêm thận – bể thận cấp tính và viêm thận – bể thận mạn tính. Vậy triệu chứng viêm thận – bể thận cấp tính là gì?

Nguyên nhân gây viêm thận – bể thận cấp tính

  • Do việc cản trở sự lưu thông của nước tiểu thường gặp ở các bệnh như sỏi thận, u thận tiết niệu …
  • Do ứ đọng nước tiểu như gặp ở bệnh u tuyến tiền liệt.
  • Do thực hiện các thủ thuật sản khoa, ngoại khoa … không được đảm bảo vô trùng.
  • Do vệ sinh kém ở vùng sinh dục gây viêm thận – bể thận.

 Triệu chứng viêm thận – bể thận cấp tính
  • Hội chứng bàng quang: có tiền sử đái buốt, đái rắt, đái máu, đái mủ cuối bãi trước khi có viêm thận – bể thận cấp.
  • Đau hông lưng:
    - Thường đau một bên nhưng cũng có khi đau cả hai bên.
    - Thường đau âm ỉ nhưng thỉnh thoảng lại có cơn đau nhiều dữ dội.
  • Dấu hiệu nhiễm khuẩn: sốt cao, rét run, môi khô, lưỡi bẩn, hơi thở hôi, có thể có dấu hiệu mất nước do sốt. Nặng có thể khiến sốc nhiễm khuẩn.

Biến chứng của bệnh

  • Suy thận cấp.
  • Nhiễm khuẩn huyết.
  • Sốc nhiễm khuẩn.

thuoc chua benh soi than

Nguy hiểm từ việc ăn bữa tối muộn

Ăn bữa tối quá muộn hay lượng ăn quá nhiều trong bữa dễ dẫn đến một số bệnh như cholesterol cao, bệnh tim mạch, tiểu đường, béo phì, ung thư…

Béo phì
Ăn bữa tối quá nhiều chất, nặng dầu mỡ hay các loại gia vị dễ khiến lượng đường trong máu, axit amin, axit béo tăng lên. Cùng với việc cơ thể ít hoạt động vào bữa tối, mức tiêu thụ calo ít,và dần dần làm cho cơ thể phát phì

Cholesterol cao, tăng huyết áp
Đã có nhiều nghiên cứu khẳng định rằng tiêu thụ thường xuyên thịt hoặc cá ăn trong bữa sẽ mắc triệu chứng cholesterol cao gấp 3-4 lần so với người ăn chay hay người có bữa tối đạm bạc hơn. Hơn thế khi đã có chứng bệnh cholesterol cao, cao huyết áp, nếu ăn thịt hoặc ăn cá thường xuyên vào các bữa tối sẽ càng làm bệnh tồi tệ hơn.
 

Bệnh tiểu đường
Với người già, thường xuyên ăn tối quá trễ sẽ làm tăng gánh nặng cho quá trình bài tiết insulin trong các tế bào tuyến tụy. Dần dần dẫn đến bệnh tiểu đường


Sỏi đường tiết niệu
Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người mắc bệnh sỏi đường tiết niệu có liên quan đến việc dùng bữa tối quá muộn . Một phần do nguyên nhân chủ yếu gây ra bệnh sỏi đường tiết niệu là canxic cao. Ngoài ra, còn do hệ thống bài tiết. Nếu ăn tối quá muộn, khi đi ngủ, lượng nước tiểu không được đào thải ra ngoài mà sẽ lưu giữ trong đường tiết niệu, theo thời gian sỏi đường tiết niệu sẽ hình thành.

Bệnh tim mạch vành
Ăn tối quá nhiều năng lượng, có thể gây tăng cholesterol trong máu, tích tụ quá nhiều cholesterol trong thành mạch máu, một thời gian dài sẽ gây ra xơ vữa động mạch và bệnh mạch vành.

 

Viêm tụy cấp
Nếu ăn quá nhiều vào bữa tối, có khả năng gây viêm tụy cấp. Nhất là với những người có thể trạng yếu, khi ngủ xảy ra triệu chứng của bệnh này nếu cấp cứu không kịp thời sẽ đe dọa tính mạng.

Ung thư đại trực tràng
Thường căn bệnh này tỷ lệ nam giới mắc phải sẽ cao hơn. Sau bữa tối một phần protein không thể tiêu hóa và hấp thụ, các chất này dưới tác động của vi khuẩn trong ruột sản sinh một chất độc hại, nếu các chất này lưu trú lâu dần dẫn đến ung thư đại trực tràng.

Quán quân Americam Idol hoãn mổ thận để đi tour


Nguồn tin từ tờ E! Online cho biết quán quân mùa giải mới của chương trình tìm kiếm tài năng âm nhạc nước Mỹ - Phillips Phillips sẽ không tiến hành phẫu thuật thận để có thể tham gia “American Idol 2012 Tour”. Đây là một tin vui lớn đối với những người hâm mộ chàng ca sĩ điển trai có giọng hát đầy tài năng này. 


Phillip Phillips vốn có tiền sử mắc bệnh sỏi thận và căn bệnh này đã tái phát trong quá trình anh tham gia American Idol. Các bác sĩ đã yêu cầu Phillips nhập viện phẫu thuật để tránh biến chứng nặng ngay sau đêm đăng quang chưa được bao lâu. Được biết, thời gian phục hồi phải mất một tháng nên trước đó, nhiều thông tin cho biết Phillips không thể đi tour cùng các bạn trong 2 tháng tới.
Thay vì bay tới New York tham dự họp báo sau chiến thắng và quay trở về quê hương Georgia phẫu thuật, Phillips đã tiến hành những cuộc phỏng vấn từ xa. E! Online khẳng định rằng Phillips vẫn có thể tham gia được toàn bộ tour diễn trên vì bác sĩ đã đưa ra phương án điều trị thay thế giúp anh chống chọi với bệnh tật trong 45 ngày đi lưu diễn. 
Nguồn tin trên khẳng định Phillips đang được điều trị và có tiến triển về sức khỏe rất tốt. Tuy nhiên chàng ca sĩ 21 tuổi này và gia đình vẫn giữ kín chuyện điều trị bệnh của anh ở thời điểm hiện tại và trong tương lai. Một đại diện của hãng Fox cho biết họ không có bình luận nào về tin tức Phillips sẽ tham gia đi tour. 


Người đại diện của tour diễn “American Idol 2012 Tour” phát biểu: “Phillips sẽ tham gia tất cả các buổi biểu diễn trong tour và thực sự trông chờ ngày khởi động chuyến lưu diễn vào 6/7 tới.”. Theo lịch trình, tour diễn với sự tham gia của những thí sinh nằm trong Top 10 cuộc thi năm nay sẽ diễn ra từ ngày 6/7 đến ngày 11/9 với tổng cộng hơn 40 show diễn tại nhiều thành phố lớn của Bắc Mỹ.



thuoc chua benh soi than

Wednesday, November 20, 2013

Người bị sỏi thận kiêng ăn gì?


Rau chân vịt:
Tính mát, vị ngọt, có vùng coi rau chân vịt là thức ăn "nảy nở". Nhiều sách y học cổ truyền cũng có nhận định là: "ăn nhiều gây lở loét". Qua quan sát lâm sàng của y học hiện đại có thể nhận thấy: một số bệnh nhân thận sau khi ăn rau chân vịt thấy trong niệu đạo gia tăng kết tinh của loại muối, nước tiểu trở lên nên vẩn đục. Vì vậy, người bệnh thận nên kiêng ăn hoặc cần cẩn thận khi ăn loại rau này.

 Củ niễng:
Căn cứ vào những nghiên cứu cho thấy, củ niễng non chứa một lượng khá lớn axit axalic và calcium oxalate khó hòa tan. Do đó những người có sỏi trong hệ thống niệu đạo không nên ăn nhiều, hoặc ăn thường xuyên loại củ này.
 
Trà đặc:
Trong lá trà có chứa chất hoạt tính như cafein, có thể khiến huyết áp tăng cao, làm tim đập nhanh. Còn trong lá trà xanh lượng cafein tương đối thấp, chứa tương đối nhiều polyphenols, có tác dụng ức chế cafein và lợi tiểu. Do đó người bệnh thận có thể uống trà nhưng không nên dùng trà đặc, các sản phẩm từ lá trà như trà xanh tương đối phù hợp.

Cà phê:
Không chỉ làm tăng huyết áp mà còn làm tăng lượng cholesterol, làm trầm trọng thêm mức độ xơ cứn động mạch, điều này không có lợi đối với người bệnh thận, do đó không nên sử dụng thường xuyên.


thuoc chua benh soi than

Tuesday, November 19, 2013

Món canh hỗ trợ điều trị sỏi đường tiết niệu

Sỏi đường tiết niệu là một bệnh có thể chữa một cách tự nhiên. Và có một cách đơn giản giúp chữa bệnh này là sử dụng một số món canh ngon hỗ trỡ điều trị.

Cách chữa bệnh tùy theo thể bệnh trên lâm sàng và theo nguyên tắc cấp tính trị tiêu, mạn tính hòa hoãn trị bản. Thời gian chữa trị kéo dài có thể làm sỏi nhỏ lại tự tiêu hoặc tiểu tiện bài tiết ra ngoài. Có thể làm thay đổi cơ địa giúp sỏi không tái phát (sau khi bài tiết ra hay sau khi phẫu thuật lấy sỏi). Dưới đây xin giới thiệu một số món canh dễ làm, ngon miệng hỗ trợ điều trị bệnh sỏi đường tiết niệu:

-Canh tôm nha đam: Một nhánh nha đam, gọt bỏ vỏ bên ngoài và cắt thành những miếng nhỏ, tôm 70g bóc vỏ, ướp gia vị vừa ăn trong 10 phút. Bắc nồi lên bếp cùng với một ít dầu, phi hành cho thơm. Cho tôm vào xào. Thêm khoảng 750ml nước và nấu cho tôm chín, cho nha đam vào. Đun thêm khoảng 5 – 7 phút nữa cho nha đam chín. Tắt bếp, cho thêm hành, mùi, ăn nóng. 10 ngày là một liệu trình.

-Canh rau ngổ nấu thịt: Thịt nạc 100g ướp với gia vị vừa ăn. Bắc nồi lên bếp cùng với một ít dầu, cho hành vào, phi thơm. Cho thịt vào xào sơ qua. Thêm nước hầm xương vào nồi, đun sôi. Khi thịt chín thì tắt bếp. Thêm chút muối và 50g rau ngổ vào. Rau ngổ có tác dụng tiêu viêm, lợi tiểu, tăng lưu lượng lọc ở cầu thận nên có tác dụng tốt trong những trường hợp sỏi thận.
 

 -Canh gà lá giang: Thịt gà 200g chặt thành khúc ướp gia vị vừa ăn. Bắc nồi lên bếp và dùng ít dầu để xào thịt gà sơ qua. Tiếp theo chế vào nồi khoảng 750ml nước nấu cho tới khi thịt gà chín. Thêm vào nồi canh 150g lá giang. Khoảng 5 phút sau là được. Thêm hành, mùi, ăn nóng. Món này có thể ăn hàng ngày. Theo nghiên cứu lâm sàng, lá giang có tác dụng điều trị sỏi thận với tỉ lệ thành công rất tốt.

-Canh gan lợn mã đề: Gan lợn 200g cắt thành miếng nhỏ, ướp gia vị trong 10 phút, mã đề 30g. Bắc chảo lên bếp. Phi hành cho thơm rồi cho gan vào xào sơ qua. Thêm nước, nấu cho gan chín, cho mã đề vào đun thêm 5 phút là được. Thêm hành, mùi, ăn nóng. Với những người mắc bệnh tăng huyết áp… hạn chế dùng bài thuốc này.

Với các món canh ngon dễ làm như trên bạn có một cách điều trị hỗ trợ tốt cho bệnh sỏi đường tiết niệu. Chúc bạn thành công!





thuoc chua benh soi than

Món ăn tốt cho người bị sỏi thận


Thịt tắc kè:
Theo kinh nghiệm y học cổ truyền, người bị sỏi ở hệ thống tiết niệu nên ăn thịt tắc kè. "Bản thảo kinh sơ" có giải thích: "Thịt tắc kè có tác dụng chính là chữa lâm lịch, thông tiểu". Vì thế, người bị sỏi ở hệ thống tiết niệu nên ăn thịt tắc kè.

Kiwi:
Quả Kiwi có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, tán ứ thông lâm. Người bị sỏi niệu đạo và viêm nhiễm niệu đạo cấp tính nên ăn quả Kiwi. Trong "Khai bảo bản thảo" đã sớm ghi nhận: "Kiwi dứt cơn khát, giải phiền nhiệt, hạ thạch lâm"
 

 Cỏ linh lăng:
Cỏ linh lăng có thể tiêu trừ sỏi bàng quang, nhất là người bệnh sỏi bàng quang do purin nên ăn món này. Rễ cỏ linh lăng cũng thích hợp với người bị sỏi ở hệ thống tiết niệu, có khả năng thanh thấp nhiệt, lợi tiểu.

Hướng dương:
Lõi cành cây hướng dương có tác dụng chữa chứng tiểu ra máu, sỏi đường tiết niệu, tiểu tiện không thông...Vỏ hạt hướng dương chữa chứng ù tai.
Viêm đường tiết niệu và sỏi tiết niệu: Lõi cành hướng dương 15g sắc uống. Hoặc dùng đài hoa hướng dương sắc uống. Rễ hướng dương tươi 30g sắc uống.
Để chữa ù tai do thận hư: Vỏ hạt hướng dương 9-15g sắc uống. Hoặc cũng có thể dùng đài hoa hướng dương 15g, hà thủ ô 6g, thục địa 9g, sắc uống.
Ngoài ra có thể chữa phù thũng, tiểu tiện không thông, rễ hướng dương 15g, vỏ bí đao 30g sắc uống hàng ngày.
Chú ý: Phụ nữ có thai không được dùng vì có thể gây sảy thai. 

(Theo: thực đơn cho người bệnh thận- nhà xuất bản Hà Nội)

thuoc chua benh soi than