Tuesday, February 10, 2015

THÓI QUEN CÓ THỂ GÂY TỔN THƯƠNG THẬN

Đôi khi một số thói quen phổ biến có thể gây tổn thương cho thận. Khi vấn đề được phát hiện thì có thể đã là quá trễ.
Thận thực hiện nhiều chức năng như sản xuất hormone, lọc máu, hấp thu khoáng chất, sản xuất nước tiểu và duy trì cân bằng axit-alkaline lành mạnh. Do vậy, con người không thể sống mà thiếu thận. Nếu bạn muốn thận phát triển và phục vụ sức khỏe tốt thì cần loại bỏ những thói quen gây hại dưới đây:

1. Uống soda có đường

Hay uống nước ngọt là một trong những thói quen chính gây hại cho thận. Một nghiên cứu chỉ ra rằng những người uống trên 2 cốc soda mỗi ngày có nguy cơ bị bệnh thận cao hơn. Protein sẽ lọt vào nước tiểu của bạn trong trường hợp thận bị tổn thương. Protein trong nước tiểu (protein niệu) là một dấu hiệu sớm của tổn thương thận. Khi được phát hiện ở giai đoạn sớm, bệnh có thể vẫn cứu chữa được.

2. Thiếu vitamin B6

Đây cũng là một trong những lý do gây tổn thương thận. Chế độ ăn lành mạnh là quan trọng để có chức năng thận tốt. Theo một nghiên cứu, thiếu vitamin B6 làm tăng nguy cơ bị sỏi thận. Để chức năng thận được hoạt động tối ưu, bạn nên dùng ít nhất 1,3miligram vitamin B6 mỗi ngày. Những nguồn thực phẩm giàu loại vitamin này nhất gồm cá, đậu xanh, gan bò, khoai tây và các loại rau giàu tinh bột.

3. Ít vận động

Tập luyện là cách tốt để bảo vệ thận. Một nghiên cứu chỉ ra rằng những người chăm chỉ tập luyện giảm 31% nguy cơ bị sỏi thận. Duy trì cân nặng vừa phải cũng sẽ làm giảm nguy cơ bị sỏi thận. Không tập luyện là một thói quen gây tổn hại cho chiếc máy lọc máu này.

4. Thiếu magiê

Thiếu magiê có thể gây rắc rối cho thận. Nếu bạn không hấp thu đủ magiê, canxi không thể được hấp thụ và tiêu hóa hợp lý. Điều này có thể dẫn tới canxi bị dư thừa và hình thành sỏi. Để dự phòng điều này, bạn cần có đủ magiê trong chế độ ăn, ăn nhiều rau lá xanh, đậu, hạt, và quả bơ.

5. Thiếu ngủ

Ngủ không hợp lý cũng góp phần gây tổn hại cho thận. Giấc ngủ ngon rất quan trọng đối với nội tạng này. Một nghiên cứu chỉ ra rằng sự gián đoạn giấc ngủ kéo dài có thể gây bệnh thận. Mô thận được tái tạo trong đêm, vì vậy sự gián đoạn giấc ngủ có thể gây tổn hại trực tiếp cho nó. Bạn cần ngủ ít nhất 8 tiếng mỗi đêm.

6. Không uống đủ nước

Bạn cần uống đủ nước để duy trì chức năng thận. Nếu không uống đủ, các độc tố có thể bắt đầu tích tụ trong máu. Uống ít nhất 12 cốc nước mỗi ngày là tốt cho thận. Một cách đơn giản để xem bạn có uống đủ nước hay không là kiểm tra màu nước tiểu. Nếu không uống đủ nước, nước tiểu sẽ có màu vàng sậm.

7. Nhịn tiểu

Khi cơ thể có nhu cầu bạn nên đáp ứng. Giữ lại nước tiểu trong bàng quang là không tốt. Nếu thường xuyên như vậy sẽ làm gia tăng áp lực nước tiểu lên thận và dẫn tới suy thận.

8. Sử dụng quá nhiều muối

Đây là một trong những nguyên nhân gây suy thận. Muối rất quan trọng với cơ thể nhưng bạn nên hạn chế việc hấp thu nó. Sử dụng quá nhiều muối có thể làm tăng huyết áp và tăng áp lực lên thận. Bạn không nên ăn quá 5,8 g muối mỗi ngày.

9. Dùng quá nhiều caffein

Bạn thường sử dụng nhiều caffein hơn mình nghĩ. Caffein có trong nhiều loại nước ngọt và soda, đồ uống năng lượng và cà phê. Huyết áp sẽ tăng do dư thừa caffein và thận của bạn có nguy cơ bị tổn thương. Vì vậy hãy sử dụng hạn chế caffein.

10. Lạm dụng thuốc giảm đau

Đôi khi bạn dùng thuốc quá thường xuyên và với liều quá lớn. Khi cơn đau xuất hiện, có thể khắc phục dễ dàng bằng việc uống thuốc. Nhưng bạn nên thận trọng vì tất cả các loại thuốc đều có tác dụng phụ và nhiều loại thuốc gây tổn thương cho thận.

11. Uống thuốc không đầy đủ

Huyết áp cao và tiểu đường là 2 bệnh phổ biến gây ra bởi lối sống và chế độ ăn không lành mạnh. Nếu bạn mắc các bệnh này, bạn có thể bị tổn thương thận từ từ. Tuy nhiên, nếu bạn uống thuốc đầy đủ, tổn thương sẽ được dự phòng. Hãy bảo vệ cơ quan thiết yếu này của bạn bằng cách dùng thuốc theo đơn.

12. Ăn quá nhiều đạm (protein)

Theo một nghiên cứu, việc sử dụng quá nhiều đạm trong chế độ ăn có thể gây hại cho thận. Sản phẩm phụ của tiêu hóa đạm là ammonia. Nó là một chất độc mà thận cần phải vô hiệu hóa. Nhiều đạm nghĩa là thận phải làm việc nhiều hơn, điều này có thể dẫn tới suy giảm chức năng thận.

13. Không điều trị những bệnh nhiễm trùng thông thường một cách nhanh chóng và thích hợp

Đôi khi bạn bị cảm lạnh đơn thuần. Bạn buộc cơ thể phải làm việc và không nghỉ ngơi hợp lý. Điều này có thể gây tổn thương cho thận. Các nghiên cứu chỉ ra rằng những người không nghỉ ngơi và điều trị hợp lý thường kết thúc với bệnh thận.

14. Uống quá nhiều rượu

Các độc tố trong rượu không chỉ gây tổn thương cho gan mà còn gây tổn thương cho thận. Điều này sẽ làm tăng áp lực cho nó và khiến thận bị tổn thương từ từ. Một cách để tránh bệnh này là uống rượu vừa phải.

15. Hút thuốc

Hút thuốc có liên quan tới bệnh xơ vữa động mạch. Việc thu hẹp và xơ cứng mạch máu ảnh hưởng tới việc cung cấp máu cho các cơ quan thiết yếu trong đó có thận. Theo nghiên cứu này, cứ hút 2 điếu thuốc mỗi ngày là có thể tăng gấp đôi số tế bào nội mô có trong máu. Đây là dấu hiệu của tổn thương động mạch.


Tuesday, February 3, 2015

Sỏi bàng quang


Sỏi bàng quang là bệnh phổ biến ở trẻ em, thường do mất nước và chế độ ăn uống thấp protein, nhưng trong các phần khác của thế giới, sỏi bàng quang xảy ra chủ yếu ở nam giới lớn tuổi. Nếu sống ở một nước công nghiệp, các yếu tố này làm tăng nguy cơ:
Ở các nước giàu có, sỏi bàng quang có xu hướng xảy ra ở những người 50 tuổi trở lên, mặc dù những người nam trẻ hơn có bí tiểu cũng có thể phát triển sỏi.
Bàng quang bị cản trở lối thoát. Nguyên nhân phổ biến nhất của sỏi bàng quang ở nam giới, cản trở lối thoát bàng quang dùng để chỉ tình trạng bất kỳ mà khối dòng chảy của nước tiểu từ bàng quang đến niệu đạo, ống dẫn nước tiểu ra khỏi cơ thể. Bàng quang bị cản trở lối thoát có nhiều nguyên nhân, nhưng phổ biến nhất là một tuyến tiền liệt mở rộng. Các nguyên nhân khác có thể bao gồm ung thư tuyến tiền liệt, thu hẹp niệu đạo nhiễm trùng hay phẫu thuật, thậm chí một số thuốc.
Thần kinh bàng quang, đột quỵ, tổn thương tủy sống, bệnh Parkinson, tiểu đường, một đĩa đệm thoát vị và một số vấn đề khác có thể làm hỏng các dây thần kinh kiểm soát chức năng bàng quang. Một số người bị thần kinh bàng quang cũng có thể có một tuyến tiền liệt mở rộng hoặc loại khác cản trở lối thoát của bàng quang, mà hơn nữa làm tăng nguy cơ sỏi thận.
Thường xuyên bị nhiễm trùng bàng quang. Viêm bàng quang nhiễm trùng mãn tính có thể dẫn đến việc hình thành sỏi bàng quang.

Tuesday, January 27, 2015

Lựa chọn biện pháp xử lý sỏi như thế nào?


Một số người bị sỏi thận có nguy cơ bị suy thận nếu không được chữa trị kịp thời. Sỏi thận ở quá lâu trong thận cũng có thể gây ảnh hưởng đến thận. Một số loại sỏi thận có cạnh sắc nhọn có thể làm tổn thương đến các mạch máu nhỏ trong thận và tạo ra sẹo. Vì vậy cần phải tìm đúng loại sỏi và đúng cách điều trị sỏi thận triệt để nếu phát hiện ra bệnh

Nhiều nguy cơ do sỏi thận gây ra

Phần lớn các trường hợp sỏi thận hình thành do nước tiểu bị cô đặc như uống ít nước hoặc tập thể thao quá sức ra nhiều mồ hôi, sự thừa khoáng tinh thể trong nước tiểu. Các khoáng chất như canxi, oxalate, uric axit, natri, cystine hay phốt-pho kết thành một khối rắn và đó chính là sỏi thận. Sỏi thận cũng có thể ra ngoài qua đường tiểu, nhưng cũng có thể ở trong thận, bàng quang hay niệu đạo. Sự di chuyển của sỏi, nhất là những sỏi có gai nhọn sẽ cọ xát vào đường niệu gây ra những cơn đau lưng, đái ra máu nếu sỏi ở thận, niệu quản. Còn sỏi tại bàng quang, niệu đạo sẽ gây đái buốt, đái rắt, đái khó. Nếu bị kẹt trong cuống đài thận, sỏi sẽ chèn ép làm bế tắc cuống đài thận nên đài thận giãn nở, lâu dần thận sẽ giãn mỏng như một túi nước. Khi các đài thận bị căng trướng nước tiểu sẽ tạo ra áp lực cao tác động vào thần kinh thận và vỏ thận gây ra cơn đau quặn thận.
Đặc biệt khi sỏi cọ xát vào đường niệu thì nguy cơ niêm mạc bị phù nề, viêm, là điều kiện tốt cho vi khuẩn xâm nhập gây viêm nhiễm đường tiểu. Người bệnh sẽ thấy đau lưng, đái buốt, đái rắt, đái đục. Nếu nhiễm khuẩn nặng sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như suy thận. Nếu thận mủ toàn diện có thể phải cắt bỏ thận. Bế tắc đường tiểu làm tồn đọng nước tiểu gây viêm nhiễm lâu ngày sẽ dẫn đến xơ hóa thành đường tiểu kể cả đài thận. Hậu quả của xơ hóa sẽ dẫn đến giảm chức năng co bóp đường tiểu, chít hẹp làm bế tắc đường tiểu, tồn đọng nước tiểu. Viêm nhiễm nặng ở đường tiểu còn làm hoại tử đường tiểu, xuất hiện các lỗ rò ở bàng quang, niệu quản. Đã có những trường hợp vỡ thận và vỡ bàng quang do sỏi. Sự hiện diện lâu ngày của sỏi hai bên niệu quản hay sỏi thận một bên còn bên kia sỏi niệu còn dẫn đến hiện tượng vô niệu (không có nước tiểu). Chức năng thận sẽ bị giảm nếu có sỏi ở hai bên thận, nhất là khi có sự kết hợp của viêm nhiễm gây ra suy thận.

Lựa chọn biện pháp xử lý sỏi như thế nào?

Tùy theo kích thước, vị trí và biến chứng của sỏi gây ra mà có các chỉ định can thiệp lấy sỏi khác nhau. Có những trường hợp cần can thiệp cấp cứu để lấy sỏi ngay, có trường hợp có thể trì hoãn lấy sỏi nghĩa là can thiệp lấy sỏi chủ động theo lịch như mổ lấy sỏi hoặc tán sỏi. Có trường hợp không cần can thiệp gì đối với sỏi nhỏ không gây các biến chứng đau nhiều, đái ra máu hoặc gây biến chứng viêm nhiễm ở thận.
Về điều trị sỏi thận, với bất kỳ loại sỏi nào cũng cần: Uống nhiều nước để dễ tống sỏi ra ngoài; Điều trị các đợt nhiễm khuẩn, viêm nhiễm ở thận; Điều trị các biến chứng hay các yếu tố thuận lợi dễ hình thành sỏi. Khi biết được nguyên nhân hay thành phần của sỏi thì phải điều trị theo nguyên nhân. Cách thức điều trị cũng như tiên lượng của sỏi thận phụ thuộc vào 2 yếu tố chính:
- Về kích thước sỏi: khi sỏi nhỏ hơn 10 mm và sỏi nằm ở đài bể thận, sỏi chưa gây biến chứng thì cố gắng tác động bằng thuốc để sỏi có thể rơi xuống bàng quang một cách tự nhiên và sỏi có thể được đái ra ngoài.
- Vị trí của sỏi: Sỏi thận với kích thước nhỏ hơn 2cm thường được điều trị bằng phương pháp tán sỏi ngoài cơ thể, tuy nhiên nếu sỏi nằm ở phía đài dưới của thận thì cho kết quả kém hơn. Trong trường hợp sỏi nằm ở vị trí này thì giới hạn chỉ định tán sỏi khi nhỏ hơn 1cm. Phương pháp mổ lấy sỏi qua da vẫn là một cách điều trị tương đối an toàn và hiệu quả nên được chỉ định cho các trường hợp sỏi thận có kích thước lớn, không có khả năng tán hoặc lấy sỏi qua nội soi.
Ngày nay, với sự phát triển của nội soi niệu quản thì ngoài phương pháp tán sỏi ngoài cơ thể cũng có thể lấy sỏi qua nội soi. Chỉ định lấy sỏi qua nội soi phải dựa vào từng trường hợp cụ thể, thể trạng bệnh nhân, chức năng thận khi phát hiện sỏi cũng như kinh nghiệm của thầy thuốc và phương tiện của cơ sở điều trị.

Lời khuyên: Khoảng 50% bệnh nhân mang sỏi nhỏ không có triệu chứng sẽ trở nên có triệu chứng trong vòng 5 năm. Sỏi san hô ở thận thường liên quan đến nhiễm khuẩn. Do vậy những trường hợp sỏi to thì nên điều trị ngay khi phát hiện ra sỏi.

Vì hơn một nửa số người đã từng bị sỏi thận sẽ tái phát, nên cách tốt nhất là phòng ngừa, như thay đổi cách sống, đặc biệt là khẩu phần ăn và thói quen tập thể dục. Bạn có thể sử dụng thuốc phòng ngừa tái phát sỏi thận. Những người đã từng bị sỏi thận nên uống khoảng 2 lít nước mỗi ngày (nếu không bị bệnh gì cần phải hạn chế uống nước). Ngoài ra, nếu đã bị sỏi canxi, có thể cần phải giảm lượng thức ăn chứa nhiều oxalate, canxi như các loại quả hạnh nhân, sôcôla, chè, rau chân vịt, các loại quả mọng như dâu tây. Ăn kiêng với chế độ ăn ít chất đạm cũng làm giảm nguy cơ hình thành sỏi thận.

Tuesday, January 20, 2015

Để thận của bạn luôn khỏe


1. Vị trí của thận trong cơ thể?

Thận được “đặt” ở phía sau khoang bụng, phía trên thắt lưng. Phía sau thận được bảo vệ bởi xương sườn. Nếu bạn đặt tay lên hông thì đầu ngón tay cái chỉ ra vị trí của thận.

2. Hút thuốc lá ảnh hưởng đến thận?

Đúng. Thận thực hiện các chức năng cần thiết của việc giữ máu trong cơ thể, đào thải các độc tố. Trong thực tế, một số người nghiện thuốc lá bị ung thư biểu mô tế bào thận. Hút thuốc cũng làm tăng lắng đọng cholesterol trong các mạch máu lớn, giảm lượng máu cung cấp cho thận. Điều này có nghĩa là nồng độ oxy trong thận giảm, gây ra tình trạng thiếu oxy, làm giảm bớt khả năng hoạt động tối ưu của thận.

3. Mỗi ngày thận lọc bao nhiêu máu?

Lượng máu được lọc qua thận tùy thuộc vào thể trạng, sức khỏe của mỗi người và sức khỏe của thận. Một người lớn khỏe mạnh, thận làm việc tốt thì sẽ có khoảng 180 lít máu được lọc qua thận mỗi ngày để loại bỏ các chất thải độc hại ra khỏi máu.

4. Những thực phẩm nào tốt cho thận?

Để thận làm việc tốt, khỏe mạnh, bạn nên bổ sung các loại thực phẩm có hàm lượng kali thấp cho cơ thể. Thận có nhiệm vụ duy trì lượng kali trong cơ thể. Nếu lượng kali tăng có thể dẫn đến sự bất thường trong nhịp tim, thậm chí dẫn đến cơn đau tim. Vì vậy, ăn những thực phẩm có hàm lượng kali thấp sẽ tốt hơn cho thận, ví dụ như dứa, đậu xanh.

5. Nguyên nhân chính gây suy thận là gì?

50% bệnh nhân bị bệnh thận là bởi bệnh tiểu đường gây ra. Ở những bệnh nhân tiểu đường, protein albumin cần thiết cho các chức năng cơ bắp bị rò rỉ vào các đơn vị lọc của thận làm cản trở các ống thải nước tiểu ra khỏi cơ thể. Do đó, nước tiểu được hấp thu ngược trở lại vào cơ thể làm thay đổi sự cân bằng của độ cytokine – phân tử có nhiệm vụ truyền tín hiệu tới các tế bào trong phản ứng miễn dịch, ngừa bệnh. Khi các phân tử này bị suy giảm, có thể dẫn đến tổn thương ở thận và hệ tiết niệu.

Ngoài ra, những người bị cao huyết áp, người bị bệnh lý nhiễm trùng… cũng có thể gặp biến chứng và suy thận.

6. Những thói quen phổ biến nào gây hại thận?

Một số thói quen gây hại thận bao gồm:

- Uống ít nước: Nước có nhiệm vụ pha loãng nước tiểu. Nước tiểu được bài tiết nhanh chóng không chỉ giúp ngăn ngừa sỏi mà còn “làm nhạt” nước tiểu khi ăn quá nhiều muối, từ đó bảo vệ thận.

- Lạm dụng thuốc giảm đau: Sử dụng thuốc giảm đau lâu dài làm giảm tốc độ dòng chảy trong máu của cơ thể, do đó, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng thận. Ngoài ra, việc lạm dụng thuốc giảm đau của bệnh nhân suy thận cũng dễ dẫn đến ung thư bàng quang.

- Ăn quá nhiều muối: 95 % muối trong chế độ ăn uống được chuyển hóa bởi thận, nếu không kịp đào thải nó sẽ tiếp tục tăng thêm gánh nặng, dẫn đến giảm chức năng thận.

7. Các biện pháp phòng ngừa suy giảm chức năng thận?

Để thận khỏe mạnh, bạn cần lưu ý các biện pháp sau:

- Nếu người bệnh có bệnh tiểu đường cần điều trị tốt đường máu ở mức bình thường và thường xuyên kiểm tra định kỳ chất đạm trong nước tiểu.

- Không hút thuốc lá, uống nhiều rượu.

- Nên ăn các thức ăn có lợi như ít muối, ít chất béo, ăn nhiều cá, rau quả. Một số loại thức ăn ít muối như thực phẩm tươi, trái cây, củ hành, tiêu, chanh, gừng…

- Uống đủ nước, tập thể dục đều đặn.

- Không tự ý dùng thuốc bừa bãi.

- Khám bác sĩ khuyên bạn nên khám sức khỏe định kỳ 6 tháng hoặc 1 năm/lần. Khi khám thận cần chú ý kiểm tra huyết áp, nước tiểu, xét nghiệm máu…


Monday, January 12, 2015

Bệnh Polyp túi mật

Bệnh Polyp túi mật khá phổ biến, dễ phát hiện qua siêu âm. Đa số là lành tính nhưng một số trở thành ung thư nên đã làm nhiều người hốt hoảng khi kiểm tra sức khoẻ phát hiện polyp túi mật. Hãy yên tâm!



Polyp túi mật là gì?
Polyp túi mật là một hay nhiều khối nổi lên trên bề mặt niêm mạc túi mật, nhô vào trong lòng túi mật. Các polyp này thường được tình cờ phát hiện khi làm siêu âm bụng. Trong 100 người bình thường, nếu cho làm siêu âm bụng sẽ phát hiện từ 1 đến 4 người có polyp túi mật (theo thống kê của nước ngoài). Đại đa số (95% trường hợp) polyp không phải là dạng u tân sinh mà chỉ là “u giả” do đọng cholesterol hoặc viêm nhiễm. Các loại này gần như không có tiềm năng hoá ác. Do đó, mọi người không nên quá sợ hãi khi phát hiện polyp trong túi mật của mình.

Chẩn đoán polyp túi mật
Hầu hết các trường hợp polyp túi mật đều không gây cảm giác khó chịu gì đối với cơ thể. Chẩn đoán polyp túi mật chủ yếu là tình cờ phát hiện khi làm siêu âm ổ bụng. Siêu âm cũng như các phương tiện chẩn đoán khác chỉ phát hiện polyp túi mật mà không xác định được bản chất của nó là có tiềm năng ác tính hay không. Những polyp nhỏ hơn 10 mm thì được coi như là không có tiềm năng ác tính.

Chỉ định điều trị
Polyp túi mật đa số lành tính và không gây rối loạn gì cho nên đa số là không cần can thiệp. Không có thuốc điều trị làm tan polyp.
Thái độ tốt nhất là theo dõi siêu âm mỗi 6 tháng. Chỉ định phẫu thuật cho những trường hợp sau:
- Bệnh nhân có những cơn đau quặn mật
- Polyp có đường kính lớn hơn 10 mm hoặc đường kính tăng lên gấp đôi so với lần phát hiện ban đầu.

Phẫu thuật tốt nhất là cắt túi mật qua nội soi ổ bụng. Phẫu thuật nội soi cắt túi mật khá đơn giản, mau bình phục, ít biến chứng, hiệu quả điều trị khỏi bệnh hoàn toàn.



Thursday, January 8, 2015

TAI BIẾN, BIẾN CHỨNG KHI TÁN SỎI THẬN

Thời gian gần đây, Bệnh viện Bình Dân (TP.HCM) tiếp nhận một số bệnh nhân bị biến chứng giập, vỡ thận sau khi tán sỏi ở một số bệnh viện tỉnh, thành khác. Nhiều bệnh nhân rất lo lắng về các biến chứng này. 
Tán sỏi ngoài cơ thể là phương pháp điều trị sỏi ít xâm lấn, an toàn, hiệu quả, nhưng bệnh nhân vẫn có thể bị tai biến, biến chứng do nhiều nguyên nhân khác nhau.

GIẬP THẬN SAU 3 LẦN TÁN SỎI

Khi mới tán sỏi xong, bệnh nhân thường bị tiểu máu nhưng ở mức độ nhẹ (nước tiểu màu hồng, từ từ nước tiểu nhạt dần và bình thường trở lại). Sau khi tán sỏi, bệnh nhân được bác sĩ cho thuốc về nhà uống và dặn theo dõi sức khỏe. Nếu có sốt nhiễm trùng, đau lưng quá nhiều mà uống thuốc 1-2 ngày không bớt, phải quay lại khám ngay để kiểm tra có biến chứng không.
Nếu bệnh nhân bị vỡ thận gây chảy máu ồ ạt thì phải cắt bỏ thận vỡ để cứu mạng bệnh nhân. Trường hợp bệnh nhân bị giập thận mức độ vừa, nhẹ thì chỉ cần điều trị nội khoa để bảo tồn thận. Việc điều trị thường kéo dài vài tuần đến vài tháng.
Thạc sĩ bác sĩ Nguyễn Tế Kha - phó khoa niệu A Bệnh viện Bình Dân - cho biết tán sỏi ngoài cơ thể (tán sỏi) là phương pháp điều trị sỏi ít xâm lấn, an toàn đối với sỏi niệu (sỏi thận, sỏi niệu quản) có kích thước nhỏ dưới 2cm.
Trung bình một ngày Bệnh viện Bình Dân tán sỏi cho 10-15 bệnh nhân, kết quả có trên 80% bệnh nhân hết sỏi và sạch sỏi. Tuy có kết quả tốt đối với đa số bệnh nhân nhưng một số rất ít bệnh nhân vẫn có thể bị tai biến, biến chứng sau khi tán sỏi.
Trong tháng 8 và 9-2014, Bệnh viện Bình Dân tiếp nhận ba bệnh nhân bị biến chứng sau tán sỏi ở một số địa phương đến điều trị. Trong đó, bệnh nhân D.V.C (48 tuổi, ngụ Bến Tre) đến khám ngày 3-9 trong tình trạng tổn thương thận (giập thận), sỏi thận chưa tán hết, chảy máu nhẹ.
Bệnh nhân được cho thuốc điều trị nội khoa, tiếp tục theo dõi và sau đó sẽ tiếp tục tán sỏi lần thứ tư để giải quyết sỏi còn lại ở thận.
Theo ông D.V.C, trước đó ông đến một bệnh viện ở Bến Tre để tán sỏi. Sau ba lần được bác sĩ điều trị sỏi thận bằng phương pháp này ông thấy đau nhiều, đi tiểu có máu, bầm tím xung quanh hông lưng phải nhập viện ở Bến Tre điều trị... Sau khi xuất viện vì lo lắng cho sức khỏe, ông đã đến Bệnh viện Bình Dân khám và điều trị..
Trước đó, ngày 8-8, Bệnh viện Bình Dân tiếp nhận điều trị bệnh nhân P.T.T. (70 tuổi, ngụ Ninh Thuận) đến khám vì bị giập thận, chảy máu xung quanh thận và bệnh nhân Đ.N.S. (43 tuổi, ngụ Bình Định) bị vỡ thận một phần, chảy máu ngoài bao thận.
Cả hai bệnh nhân này trước đó cũng được tán sỏi ở bệnh viện tại tỉnh.

                                       

DO MÁY MÓC, TAY NGHỀ BÁC SĨ

Theo bác sĩ Tế Kha, tỉ lệ tai biến, biến chứng sau tán sỏi thấp, biến chứng thường nhẹ và đa số có thể điều trị nội khoa cho kết quả tốt. Các tai biến, biến chứng thường gặp là đau sau tán sỏi.
Thường bệnh nhân bị đau tại vị trí da tiếp xúc với bầu nước của máy tán sỏi và đau tạng (gan, thận, tụy, lách) do căng bao thận và tổ chức quanh thận. Bệnh nhân cũng có thể bị đốm xuất huyết hay vết bầm da tại vị trí da tiếp xúc với bầu nước của máy tán sỏi.
Ngoài ra, tiểu máu (nhiều hoặc ít), tổn thương đụng giập thận sau tán sỏi cũng là biến chứng thường gặp ở hầu hết bệnh nhân được tán sỏi.
Bệnh nhân còn có thể bị một số tai biến, biến chứng ít gặp hơn như máu tụ dưới bao thận; chuỗi sỏi vụn bị kẹt ở niệu quản do sỏi vỡ vụn thoát xuống niệu quản nhiều và nhanh; nhiễm trùng niệu diễn tiến do bệnh nhân đã bị nhiễm trùng niệu mà không được điều trị tích cực trước tán sỏi hoặc do vi khuẩn được phóng thích vào nước tiểu khi sỏi vỡ vụn...
Đặc biệt, bệnh nhân cũng có thể gặp các tai biến, biến chứng hiếm gặp hơn như vỡ thận, vỡ gan, vỡ lách; ho ra máu, tràn máu màng phổi; viêm tụy gây tăng Amylase trong máu và nước tiểu; viêm gan gây tăng SGOT, SGPT trong máu; xuất huyết ruột non, đau do co thắt ruột.
Bác sĩ Tế Kha lưu ý biến chứng nặng (tỉ lệ 0,5-1%) có thể gây tử vong cho bệnh nhân bị nhiễm trùng niệu nặng chưa được điều trị tới nơi tới chốn mà tán sỏi. Trường hợp này sẽ đưa tới nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, khiến bệnh nhân có thể tử vong.
Riêng biến chứng vỡ thận dưới bao hoặc ngoài bao (tỉ lệ 1-2%) tuy nặng nhưng có thể điều trị bảo tồn giữ lại được quả thận hoặc có thể phải mổ cắt bỏ quả thận để cầm máu. Biến chứng vỡ thận phải cắt bỏ thận từ trước đến nay Bệnh viện Bình Dân chưa ghi nhận trường hợp nào.
Theo BS Tế Kha, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tai biến khi tán sỏi: do máy tán sỏi, kỹ thuật tán sỏi và trình độ, kinh nghiệm chuyên môn của bác sĩ thực hiện kỹ thuật này.
“Nếu bác sĩ có tay nghề giỏi, nhiều kinh nghiệm, được đào tạo bài bản thì khi bắn sỏi sẽ biết tập trung chùm tia laser vào mục tiêu viên sỏi thận và bắn trúng đích, theo dõi thật kỹ bệnh nhân trong lúc tán sỏi để biết cường độ tia đã thích hợp chưa để điều chỉnh tăng, giảm cho phù hợp và hiệu quả” - BS Kha nói.


Theo báo tuoitre.vn


Tuesday, January 6, 2015

Sỏi Đường Tiết Niệu - Điều Trị Sao Cho Hiệu Quả

Sỏi thận tiết niệu là bệnh khá thường gặp ở nước ta, chiếm tỉ lệ 10 - 15% dân số, chiếm 45 - 50% bệnh tiết niệu. Sỏi thận tiết niệu nếu phát hiện sớm, chọn đúng phương pháp điều trị hết sỏi, không ảnh hưởng đến chức năng của thận, hạn chế tái phát.
Sỏi thận là một hiện tượng chất khoáng trong nước tiểu lắng đọng lại ở thận, lâu ngày kết lại tạo thành sỏi. Sỏi được tạo ra do nhiều nguyên nhân và thường do sự phối hợp của nhiều nguyên nhân như uống ít nước, ăn uống nhiều canxi, rối loạn chuyển hóa, di truyền... Hơn 90% sỏi được cấu tạo bởi canxi hoặc magiê, phối hợp với oxalat, phosphat và urat.
Những năm gần đây nhờ sự phát triển của ngành Y - Dược, điều trị sỏi thận tiết niệu đã có những tiến bộ vượt bậc, đã làm thay đổi hẳn về điều trị sỏi thận tiết niệu. Bệnh nhân phải phẫu thuật đã giảm hẳn, hiện nay tỉ lệ phải phẫu thuật < 10%. Thay vào đó là các phương pháp điều trị nội khoa, phương pháp ngoại khoa kết hợp thuốc uống, Y học cổ truyền, biện pháp ăn uống, luyện tập...
Việc quyết định lựa chọn phương pháp điều trị sỏi dựa vào các tiêu chí sau: Vị trí sỏi, kích thước, mật độ của sỏi và chức năng của thận…



ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA

Với những sỏi có kích thước lớn hoặc đã có biến chứng thì thường áp dụng các biện pháp như: tán sỏi ngoài cơ thể, tán sỏi qua da, phẫu thuật lấy sỏi,…

1. Tán sỏi ngoài cơ thể

Máy tán sỏi phát ra tia laser hoặc sóng xung kích, phá bề mặt sỏi, đập vụn sỏi ra và đào thải ra ngoài theo đường nước tiểu. Bệnh nhân hầu như không đau đớn. Phương pháp này áp dụng với bệnh nhân có sỏi khoảng dưới 3cm.
Vị trí: Sỏi bể thận hoặc nhóm đài trên, nếu nhóm đài dưới cổ đài phải rộng. Sỏi 1/3 trên niệu quản.

2. Tán sỏi nội soi ngược dòng

Dùng ống soi niệu quản đi từ niệu đạo, lên bàng quang và lên niệu quản tiếp cận trực tiếp viên sỏi, dùng nguồn năng lượng bằng laser hoặc khí nén để phá vụn sỏi, bơm rửa lấy hết sỏi.
Tán những sỏi 1/3 giữa và 1/3 dưới niệu quản đối với nam giới, ở nữ giới có thể tán sỏi cao hơn lên ngang đốt sống L3, L4. Tán sỏi bằng Laser đang được thực hiện ở những nước phát triển thế giới, ưu việt hơn hẳn so với tán sỏi bằng khí nén và siêu âm. Laser có thể tán được mọi loại sỏi, kích thước < 2cm, nếu có polyp bao quanh sỏi có dùng laser để đốt polyp và sau đó tán sỏi.

3. Lấy sỏi thận qua da

Tạo đường hầm vào thận, và đưa ống nội soi đường kính 10 – 15mm vào tiếp cận sỏi. Phá vỡ sỏi bằng Laser hoặc khí nén hoặc siêu âm phá vỡ sỏi và lấy sỏi ra ngoài.
- Chỉ định cho sỏi bể thận. Sỏi có kích thước lớn, sỏi san hô, sỏi cứng, sỏi nhóm đài dưới.

4. Phẫu thuật nội soi lấy sỏi

Chỉ định cho những sỏi bể thận, sỏi 1/3 trên niệu quản. Những sỏi lớn, mật độ chắc.
Phẫu thuật mổ mở Hiện nay có chỉ định ít hơn do nhiều tai biến, thời gian hồi phục lâu. Áp dụng cho những sỏi thận, niệu quản kích thước lớn, chức năng thận kém.
Phẫu thuật bằng Robot: Thực hiện ở những nước phát triển, chỉ định cho những sỏi thận lớn, rút ngắn thời gian nằm viện, chi phí rất cao.

ĐIỀU TRỊ NỘI KHOA

Với những vừa hoặc chưa có biến chứng thì việc dùng các thuốc uống giúp tan sỏi sẽ thích hợp hơn bởi tính an toàn, tiện dụng, không đau đớn.
-Dùng thuốc đông y như Kim tiền thảo, bông mã đề, chuốt hột (sắc nước uống), kết hợp uống nhiều nước, vận động.....
-Dùng thuốc giãn cơ trơn, giảm đau nếu cần.
Bệnh nhân cần được theo dõi bằng siêu âm, nếu sau 1- 2 tháng kích thước sỏi không giảm cần chuyển phương pháp điều trị.
Nói chung, với nhiều phương pháp như hiện nay thì việc điều trị sỏi thận không còn khó khăn nhưng hầu hết các phương pháp này chỉ mới điều trị hết sỏi chứ chưa ngăn ngừa tái phát nên bệnh nhân thường phải điều trị nhiều lần gây tâm lý mệt mỏi, lo lắng.
Từ nguyên nhân gây bệnh ta thấy: để điều trị tận gốc bệnh sỏi thận, tránh tái phát cần phải kiểm soát được lượng khoáng chất phát triển trong nước tiểu không được tăng quá mức. Điều này thì các phương pháp như phẫu thuật, tán sỏi,…chưa làm được.
Trong các thuốc điều trị sỏi thận, thuốc chiết xuất từ Kim tiền thảo có tác dụng hiệu quả nhất được ghi nhận cho tới nay. Cơ chế tác dụng của Kim tiền thảo là đa cơ chế: ngăn chặn kết tụ sỏi, bào mòn sỏi bài thạch, lâm thông, có tác dụng kiểm soát lượng khoáng chất trong nước tiểu rất tốt nên có tác dụng điều trị và phòng tái phát sỏi thận.
Sỏi thận tiết niệu nếu phát hiện sớm, chọn đúng phương pháp điều trị hết sỏi, không ảnh hưởng đến chức năng của thận, hạn chế tái phát. Nếu không có thể gây ra các biến chứng nguy hiểm, nặng nề như tăng huyết áp, viêm thận bể thận mạn, ứ mủ thận, suy thận cấp. và đặc biệt suy thận giai đoạn cuối phải điều trị thay thế thận.