Monday, February 10, 2014

Vị thuốc quý trong chiếc bánh trưng

Bánh chưng là một thực phẩm cổ truyền, đậm đà bản sắc dân tộc, giàu chất dinh dưỡng, không thể thiếu trong dịp Tết Nguyên đán ở Việt Nam. Về mặt y học, tất cả các thành phần tạo nên chiếc bánh chưng đều là những vị thuốc dân gian, rất gần gũi với cuộc sống đời thường.
Lá dong: Vị ngọt nhạt, tính hơi hàn, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lương quyết, lợi tiểu, làm se. Chữa say rượu: lá dong tươi 100g, rửa sạch, giã nát, ép lấy nước uống. Dùng riêng hoặc phối hợp với lá non sắn dây. Có thể dùng cuống lá dong cũng được. Chữa ngộ độc: đọt lá dong 50g, rửa sạch, giã nát, thêm nước, gạn uống. Ngày làm 2 - 3 lần. Chữa vết thương: lá dong 100g, rửa sạch, giã nhỏ, đắp băng. Nếu vết thương chảy máu sẽ cầm lại ngay. Chữa rối loạn tiêu hóa, đi ngoài nhiều lần trong ngày: lá dong đốt tồn tính, mỗi lần uống 20g với nước sôi để nguội. Ngày uống 2-3 lần.
Gạo nếp (ngạch mễ): có vị ngọt, thơm, mềm dẻo, tính ấm, có tác dụng bổ tỳ vị. Để chữa nôn mửa không dứt, Tuệ Tĩnh (Nam dược thần hiệu) đã dùng gạo nếp 20g sao vàng, gừng tươi 3 lát, sắc với 200ml nước còn 50ml, uống trong ngày. Cũng với công dụng trên, kinh nghiệm dân gian lại dùng gạo nếp 12g phối hợp với mạch môn 12g, đảng sâm 12g, bán hạ chế 6g, cam thảo 4g, nấu nước uống. Nước gạo rang được dùng chống tiêu chảy.
Cháo gạo nếp nấu suông gọi là cháo hoa có tác dụng “mát ruột”,dùng cho những trường hợp “nặng bụng”, nếu nấu nhừ với móng giò lợn là món ăn - vị thuốc cổ điển và phổ biến làm tăng tiết sữa.
Đỗ xanh (lục đậu). Phần ăn được của hạt chứa protein 22-23,4%, lipid 1 - 2,4%, carbohydrat 53 - 60%, các acid amin, các vitamin A, B1, B2, PP, B6 và nguyên tố vi lượng. Dược liệu có vị ngọt, hơi tanh, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu khát, điều hòa ngũ tạng.
Người xưa đã biết phòng chống các bệnh viêm nhiệt về mùa hè bằng cách nấu nước uống với 3 loại đỗ xanh, đỗ đen và đỗ đỏ (lượng bằng nhau). Hạt đỗ xanh nấu với gạo nếp thành cháo, thêm đường, ăn hằng ngày chữa háo nhiệt, cồn cào, đái dắt, nôn ọe khi có thai. Đỗ xanh tán thật nhỏ, trộn với giấm đắp chữa sưng tấy, phát nóng, đau nhức.
Để giải độc, lấy đỗ xanh cả vỏ, 2 phần; cam thảo 1 phần, sắc lấy nước uống. Vỏ hạt đỗ xanh (lục đậu bì hay lục đậu xác), y học cổ truyền dùng vỏ hạt đỗ xanh phối hợp với sinh địa, huyền sâm, thạch cao, huyền minh phấn, cam thảo, mỗi vị 10g, phơi khô, nghiền nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày chữa sốt cao, mê man, co giật.
Theo kinh nghiệm dân gian, vỏ hạt đỗ xanh phơi khô, nhồi vào túi vải để gối đầu tạo cảm giác mát dễ chịu, chống nhức đầu, nhất là về mùa nóng ẩm.
Giá đỗ xanh là một loại rau ăn đặc biệt dưới dạng màu rất giàu protid, glucid, các loại vitamin nhất là vitamin E rất cần thiết cho những người hiếm con và phụ nữ bị sảy thai. Dạng dùng phổ biến là ăn giá sống. Khi bị ho có đờm, khô cổ, khản tiếng, lấy giá sống trộn với ít nước, ép lấy nước ngậm làm nhiều lần trong ngày. Để chữa ngộ độc thức ăn và kim loại, bí tiểu, say rượu, uống nước ép giá sống pha thêm đường.
Ngoài ra, thịt lợn và các gia vị làm thơm như hạt tiêu, thảo quả cũng là những vị thuốc dân gian quen thuộc.



thuoc chua benh soi than

Sunday, February 9, 2014

Sỏi đường tiết niệu


THẾ NÀO LÀ SỎI TIẾT NIỆU ?
- Sỏi tiết niệu là sỏi nằm ở các cơ quan thuộc hệ tiết niệu (bao gồm sỏi thận, niệu quản, bàng quang, niệu đạo…). Đây là tình trạng bệnh lý đã được đề cập đến từ rất lâu trong y văn và là một bệnh thường gặp, dễ gây biến chứng như nhiễm trùng, suy thận cấp hoặc mạn tính.
- Nam giới có tỷ lệ mắc cao hơn nữ từ 2-3 lần. Sỏi gặp nhiều ở người trưởng thành hơn là ở trẻ em và người già.
- Những người sinh sống ở những nơi khí hậu nóng và khô cằn tỷ lệ mắc sỏi cao hơn.

CÁC YẾU TỐ NÀO THUẬN LỢI CHO QUÁ TRÌNH TẠO SỎI ?
- Sỏi tiết niệu do nhiều nguyên nhân và nhiều yếu tố phức tạp gây nên. Quá trình hình thành sỏi thường bắt nguồn từ các muối khoáng hòa tan trong nước tiểu. Khi có những rối loạn về mặt sinh lý bệnh học và có những yếu tố thận lợi như giảm lưu lượng nước tiểu, nhiễm khuẩn tiết niệu, dị dạng đường tiết niệu hoặc có yếu tố di truyền thì các muối khoáng hòa tan sẽ kết tinh từ một nhân nhỏ rồi lớn dần thành sỏi.

Một số yếu tố thuận lợi thúc đẩy quá trình hình thành sỏi
- Urate, cystine, pH nước tiểu thấp, uống ít nước, một số sản phẩm chuyển hóa của vi khuẩn hoặc các nguyên nhân dẫn đến cô đặc nước tiểu là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình hình thành sỏi. Khẩu phần ăn có nhiều oxalate cũng là một yếu tố thuận lợi.Tuy nhiên vai trò của ăn thức ăn có nhiều canxi gây tăng nguy cơ hình thành sỏi là không rõ ràng. Ngày nay việc hạn chế canxi trong khẩu phần ăn không còn là phương pháp hiệu quả để ngăn ngừa sỏi thận tiết niệu.
- Một số loại thuốc như Acetazolamide (Diamox), thuốc lợi tiểu quai, Glucocorticoids, Theophyline, Vitamin D và C là những tác nhân thúc đẩy quá trình hình thành sỏi  canxi. 
- Lợi tiểu nhóm Thiazides, Salicylate, Probenecid, Allopurinol là những tác nhân thúc đẩy quá trình hình thành tạo sỏi axit uric. Khi dùng thuốc như Triamterine, Acyclovir, Indinavir các thuốc này sẽ lắng đọng lên sỏi đã hình thành và làm sỏi phát triển nhanh và to hơn.

Một số loại sỏi hay gặp và quá trình hình thành sỏi
 Sỏi Canxi:
- Nguyên nhân chính là tình trạng nước tiểu bị quá bão hòa về muối canxi do tăng hấp thu canxi ở ruột hoặc tăng tái hấp thu canxi ở ống thận. Xét nghiệm nước tiểu sẽ thấy canxi niệu tăng rất cao. Bình thường thận đào thải khoảng 300 mg canxi qua nước tiểu trong 1 ngày, trong trường hợp nước tiểu bị quá bão hòa về muối canxi lượng canxi đào thải qua nước tiểu có thể tăng lên 800-1000mg/24h với chế độ ăn bình thường.
- Nguyên nhân thứ 2 là giảm citrat niệu. Citrat niệu có tác dụng ức chế kết tinh các muối canxi. Khi có toan máu, nhiễm khuẩn tiết niệu, hạ Kali máu thì thường citrat niệu giảm. Khi thiếu citrat nước tiểu sẽ bão hòa muối canxi tạo điều kiện kết tinh sỏi.
- Nguyên nhân thứ 3 là nước tiểu quá bão hòa về Oxalat. Thức ăn chứa nhiều oxalat như rau chút chít, đại hoàng hoặc trong trường hợp ngộ độc vitamin C sẽ dẫn đến tình trạng này. Ở người bị viêm ruột, cắt một phần ruột non cũng thường thấy tăng oxalat niệu và có sỏi oxalat, những người có rối loạn hệ thống men chuyển hóa ở gan do di truyền gây tăng bài xuất acid oxalic để tạo thành oxalat cũng dễ có sỏi oxalat.

Sỏi acid uric:
Nguyên nhân là do nước tiểu quá bão hòa acid uric tạo điều kiện gây sỏi urat  và thường có tăng acid uric niệu đi kèm. Sỏi acid uric gặp trong tăng acid uric máu, bệnh goutte, trong một số trường hợp di truyền.

Sỏi struvit:
Sỏi struvit là do nhiễm khuẩn lâu dài đường tiết niệu, vi khuẩn giải phóng men urease, men này phân giải ure gây tổng hợp ammoniac trong nước tiểu giảm, dẫn tới làm giảm hòa tan struvit (MgNH4PO46H2O) tạo điều kiện hình thành sỏi.

Sỏi cystin:
Sỏi cystin là do cystin bị đào thải nhiều qua thận nhưng ít hòa tan nên dễ đọng thành sỏi.

Sỏi tiết niệu gây ra những hậu quả gì?
- Sỏi tiết niệu thường xuất hiện ở nơi có dòng nước tiểu yếu hoặc đường tiểu quá nhỏ, uốn khúc, bị hẹp hay tắc nghẽn, do đó những vị trí có sỏi thường là thận, niệu quản chậu hoặc sát bàng quang, cổ bàng quang, niệu đạo, lỗ sáo. Sự di chuyển của sỏi, nhất là những sỏi có gai nhọn sẽ cọ xát vào đường niệu gây ra những cơn đau lưng, đái ra máu  nếu sỏi ở thận, niệu quản.
- Sỏi tại bàng quang, niệu đạo sẽ gây đái buốt, đái rắt, đái khó.
- Nếu sỏi bị kẹt trong đài thận, sỏi sẽ chèn ép làm bế tắc đài thận nên đài thận giãn, lâu dần thận sẽ giãn mỏng như một túi nước. Khi các đài thận bị ứ nước tiểu, sẽ tạo ra áp lực cao tác động vào thần kinh thận và vỏ thận gây ra cơn đau quặn thận.
- Khi sỏi cọ xát vào đường niệu thì nguy cơ niêm mạc bị phù nề, viêm, là điều kiện tốt cho vi khuẩn xâm nhập gây viêm nhiễm đường tiểu. Người bệnh sẽ thấy đau lưng, đái buốt, đái rắt, đái đục.
- Nếu sỏi gây nhiễm khuẩn nặng sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như suy thận. Nếu thận ứ mủ  nhiều giãn to đài bể thận có thể phải cắt bỏ thận.
- Tắc nghẽn đường tiểu làm tồn đọng nước tiểu gây viêm nhiễm lâu ngày sẽ dẫn đến xơ hóa thành đường tiểu kể cả đài thận.
- Viêm nhiễm nặng ở đường tiểu còn làm hoại tử đường tiểu, xuất hiện các lỗ rò ở bàng quang, niệu quản. Sự hiện diện lâu ngày của sỏi hai bên niệu quản hay sỏi thận một bên còn bên kia sỏi niệu còn dẫn đến hiện tượng vô niệu (không có nước tiểu). Chức năng thận sẽ bị giảm nếu có  sỏi ở hai bên thận, nhất là khi có sự kết hợp của viêm nhiễm gây ra suy thận cấp hoặc mạn tính.

Chuẩn đoán sỏi tiết niệu như thế nào?
Nơi sỏi trú ngụ, đường tiết niệu bị kích thích đưa đến co thắt, … gây tăng áp lực đột ngột ở đài – bể thận làm nên các cơn đau quặn thận . Đầu tiên chỉ đau ê ẩm vùng thắt lưng, đau tăng lên khi vận động nặng, đi đường dài, đạp xe…

Những dấu hiệu của cơn đau quặn thận:
- Đau: Tính chất đau dữ dội, mãnh liệt, cảm giác bị co thắt bên trong, lăn lộn, không nằm ở tư thế nào để giảm đau, nôn và buồn nôn. Vị trí: Vùng hố sườn lưng 1 bên hay 2 bên cả vùng hạ sườn. Tức nói khi vỗ vào hố lưng, có thể sờ thấy thận nếu to, chạm thận-bập bềnh thận dương tính. Hướng lan: Từ hố thắt lưng lan xuống dưới hoặc ra phía trước đến hố chậu rồi bộ phận sinh dục ngoài và mặt trong đùi.
- Tiểu tiện: Tiểu máu, sau cơn đau quặn thận, máu toàn bãi, thường tái phát khi bệnh nhân rung chuyển nhiều và mạnh, đỡ dần khi nghỉ ngơi. Ngoài máu có thể tiểu ra mủ (dấu hiệu cần nghĩ đến sỏi thận), tiểu buốt hay gắt (nếu viêm đài – bể thận).
- Sốt: Sốt cao, rét run nếu có viêm đài – bể thận.

Xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh
-  Nhằm mục đích chẩn đoán xác định sỏi, chẩn đoán biến chứng do sỏi gây ra và tìm nguyên nhân thuận lợi tạo sỏi.
-  Cần biết lựa chọn từng phương pháp từ đơn giản đến phức tạp phù hợp với từng trường hợp.
- Để chắc chắn cần xét nghiệm nước tiểu: Tìm các tinh thể (calci oxalat hay phosphat, acid uric, citrat, magnesium…), đo pH, cấy nước tiểu. Siêu âm, chụp thận UIV, UPR hay không chuẩn bị 
- Xét nghiệm máu: Định lượng hormon tuyến cận giáp, công thức máu…
- Lựa chọn phương pháp thăm dò nào do bác sĩ khám và quyết định

Khi nào cần vào viện cấp cứu?

Bệnh nhân cần được vào viện ngay khi được chẩn đoán có 1 trong các tình trạng dưới đây:
- Ứ mủ bể thận do sỏi bể thận hoặc niệu quản.
- Vô niệu - suy thận do tắc nghẽn niệu quản 2 bên hoặc 1 bên ở thận duy nhất còn chức năng.
- Bệnh nhân không có khả năng uống thuốc do bị nôn dai dẳng, suy kiệt, hoăc cao tuổi hay những bệnhnnhân đau dữ dội nhưng không đáp ứng với các thuốc giảm đau thông  thường.
- Đái máu đại thể liên tục
- Suy thận mạn giai đoạn cuối do sỏi

Phòng bệnh:
- Với bất kỳ loại sỏi nào cũng cần: Uống nhiều n­ước, đảm bảo lượng nước tiểu khoảng > 2.5 lít/ngày.
- Điều trị các đợt nhiễm khuẩn, viêm thận bể thận. Điều trị các biến chứng hay các yếu tố thuận lợi dễ gây hình thành sỏi.
- Khi biết được nguyên nhân hay thành phần của sỏi thì phải điều trị theo nguyên nhân
 Thuốc cốm Sirnakarang được chỉ định cho những trường hợp sỏi tiết niệu, viêm đường tiết niệu, sỏi mật, viêm đường mật, viêm túi mật với liều lượng: để điều trị, người lớn mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 gói vào buổi sáng và buổi tối, khi dùng hoà gói thuốc với khoảng 100-200ml nước ấm, khuấy đều và uống, dùng liên tục trong 1-2 tháng; Để phòng ngừa, mỗi ngày uống 1 gói, liên tục trong 1 tháng; chống chỉ định với người mẫn cảm với bất cứ thành phần nào của thuốc và không dùng cho người tiểu đường, tiểu nhạt, người có hội chứng âm hư, phụ nữ có thai và đang cho con bú. Khi dùng nên uống với nhiều nước, người bị đau dạ dày nên uống thuốc lúc no.

thuoc chua benh soi than

Tâm sự của ngành y đầu năm mới

Bác sĩ - họ cũng là con người bình thường, cũng muốn được nghỉ ngơi vào ngày Tết nhưng vì công việc, vì bệnh nhân họ không thể về nhà đêm 30, không được đón giao thừa cùng người thân. Ngoài việc chữa bệnh, họ cũng có nhiều trăn trở về chính công việc của mình, làm sao để mang đến điều tốt nhất cho người bệnh.
Nhân dịp đầu Xuân Giáp Ngọ, hãy lắng nghe tâm sự, mong muốn chân tình của những người đang làm nghề y:
Ca trực đêm 30
Không phải chỉ khách tha hương mới nhớ về cố quận, không phải ai ăn Tết xa nhà mới gọi là trải qua “Xuân viễn xứ”. Nhân viên ngành y cũng trải qua nhiều cái Tết xa nhà mặc dù không… đi đâu xa.
Ngày nay, có nhiều phản ánh của người dân về y đức nhưng tôi nghĩ đấy chỉ là “con sâu làm rầu nồi canh”. Đại đa số các thầy thuốc, nhân viên y tế đã, đang và sẽ ngày đêm cống hiến hết sức cho nghề. Chỉ cần nhìn vào phiên trực của nhân viên y tế mới thấu hiểu được những hy sinh thầm lặng của họ cho người bệnh thế nào.
Nhiệm vụ bắt buộc
Trực đêm là nhiệm vụ bắt buộc của mọi nhân viên y tế, nhất là tại bệnh viện, trung tâm y tế, trạm xá… Không chỉ diễn ra trong ngày thường mà cả trong dịp lễ, Tết. Phiên trực là ca làm việc ngoài giờ hành chính, từ 16h hôm trước đến 7h sáng hôm sau. Nếu là ngày cuối tuần, lễ, Tết, ca trực sẽ bắt đầu từ 7h sáng hôm trước đến 7h sáng hôm sau.
Nhiệm vụ của ca trực là giải quyết tất cả công việc chuyên môn và quản lý của bệnh viện, vì người bệnh đâu có chọn giờ để bệnh; tai nạn, cấp cứu đâu chỉ xảy ra trong giờ hành chính. Nhân viên ca trực cũng gồm các nhân sự như giờ hành chính, chỉ giảm số lượng. Bao gồm bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên xét nghiệm, dược sĩ, hộ lý, nhân viên bảo trì, lái xe, bảo vệ, nhân viên kế toán, tổng đài điện thoại…
Phiên trực nào nhân viên y tế cũng phải làm việc căng thẳng, mệt mỏi nhưng trực ngày lễ, Tết càng đặt biệt hơn vì ngoài những căng thẳng công việc, họ còn nhiều mối lo toan gia đình thật khó tả. Ấn tượng hơn cả vẫn là phiên trực ngày 30 Tết âm lịch.
Đã nhiều năm, tua trực ở khoa Hồi sức Cấp cứu của tôi cứ rơi đúng vào ngày 30 Tết. Do đó, thay vì ở nhà trang trí đón xuân, từ sáng sớm chúng tôi phải vào bệnh viện nhận trực. Không khí ngoài đường ngày 30 rộn ràng, sôi động bao nhiêu thì trong bệnh viện lại trầm lắng bấy nhiêu. Bước chân vào cổng bệnh viện là phải gạt chuyện gia đình sang một bên, thế nhưng ai cũng tự hỏi giờ này con đang làm gì? Vợ (Chồng) đang làm gì? Nhà cửa chuẩn bị đến đâu? Hoa quả bánh trái đã bày biện thế nào? Mâm cúng rước tổ tiên chiều 30 như thế nào?...
Đây là cảnh ở gần nhà mà lại xa nhà, Tết mà không sum họp được với gia đình, phải hy sinh cả ngày đón giao thừa để làm nhiệm vụ. Các cô, các chị trong tua trực tranh thủ lúc xong việc điện thoại về nhà nhắc con, nhờ mẹ làm chuyện này, chuyện nọ, đi chợ mua món gì… Nhóm trực có cảm giác như đang lênh đênh trên con tàu xa đất liền, ai cũng hướng về gia đình mà lo lắng, vui buồn lẫn lộn.
Ngày 30 Tết trong bệnh viện là ngày dài nhất trong năm với các nhân viên trong tua trực. Cứ từng thời khắc trôi qua, họ lại bồn chồn hồi hộp, lo âu đủ chuyện: lo việc nhà, lo cho bệnh nhân trở nặng. Chiều cuối năm, trong gia đình bỗng thiếu đi một thành viên, buồn lắm chứ… nhất là vào thời điểm gia đình hoàn tất mâm cỗ chiều ba mươi, chúng tôi lại ăn bánh mì thay cơm vì căn-tin đã… nghỉ Tết.
Giao thừa trong bệnh viện
Tôi chợt nhớ bài thơ “Mùa xuân chín” của Hàn Mặc Tử có 2 câu: Khách xa gặp lúc mùa Xuân chín/Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng, thật giống tâm trạng chúng tôi, chiều 30 Tết có kẻ nào xa nhà mà không nhớ…
Rồi thời khắc giao thừa cũng đến, trong góc phòng mâm hoa quả cúng đã được bày ra, thắp hương nghi ngút. Nếu không bận việc chuyên môn, ai cũng tranh thủ chúc Tết lẫn nhau, bày bánh mứt, hạt dưa để tiếp khách. Dù là trong bệnh viện nhưng không khí đón Xuân vẫn ngập tràn, một cảm giác buồn vui lâng lâng khó tả.
Có phiên trực, bệnh nhân trở nặng khó qua khỏi nên người nhà xin về. Thật đau lòng khi nhìn họ lầm lũi đi qua dãy hành lang dài hun hút để làm thủ tục xuất viện, họ biết khi người thân về đến nhà là sẽ trút hơi thở cuối cùng nhưng như vậy còn hơn mất trong bệnh viện xa lạ lạnh lẽo.

Có phiên trực, chúng tôi phải làm thủ tục cho nhận xác về quê, tiếng khóc ai oán xé lòng lẫn trong tiếng pháo giao thừa khiến chúng tôi nghẹn ngào. Mùa Xuân đem đến niềm vui nhưng đôi khi cũng gắn với nỗi buồn của gia đình người xấu số...




thuoc chua benh soi than

Friday, February 7, 2014

Những thành tựu trong y học năm 2013

1. Con đường dẫn tới chấm dứt bệnh AIDS: một em bé sơ sinh đã được chữa khỏi HIV 
Tại Trung tâm Y khoa trường ĐH Mississippi, một em bé được sinh ra bởi người mẹ nhiễm HIV, sau 2 năm đã không còn virus, em bé đã được chữa khỏi HIV. Em bé có dấu hiệu nhiễm HIV sau sinh, nhưng có khả năng loại bỏ virus nhờ phối hợp 3 loại thuốc chống HIV mà bác sỹ thường sử dụng để điều trị cho trẻ lớn hơn và người lớn. TS. Hannah Gay và các đồng nghiệp của bà cho cả người mẹ dương tính với HIV và em bé mới sinh một liều thuốc chống virus Retrovir trong quá trình sinh để ngăn chặn truyền virus từ mẹ sang con. Dù chỉ là thử vận may, nhưng kết quả thật hiệu nghiệm. Virus đã không quay trở lại, kể cả sau khi đứa trẻ ngưng dùng thuốc.
Nghiên cứu mới đây cho thấy rằng đến 60% HIV có thể nằm im lìm ở các cá nhân bị nhiễm hơn là người ta tưởng. Lượng virus nằm yên này có thể gây mầm nhiễm mới và gây ra các triệu chứng mới. Nhưng trường hợp em bé ở Mississippi đã dấy lên hy vọng rằng nếu các bác sỹ can thiệp sớm đủ sau nhiễm HIV, có cơ hội để chặn đứng căn bệnh này.
2. Công nghệ tế bào gốc cừu Dolly 
Mất 17 năm và một vụ xì-căng-đan liên quan tới gian lận khoa học và biển thủ, nhưng các nhà khoa học cuối cùng đã hoàn thành với các tế bào con người mà một nhà khoa học từ lâu đã làm với việc nhân bản một con cừu cái. Sử dụng tế bào da người, Shoukhrat Mitalipov, một giáo sư tại Đại học Khoa học & Sức khoẻ Oregon, đã áp dụng cùng quy trình, được biết đến như chuyển đổi hạt nhân, đã sản sinh ra cừu Dolly vào năm 1996, loài động vật nhân bản đầu tiên trên thế giới. Một cố gắng trước đây của các nhà nghiên cứu Hàn Quốc hoá ra là gian lận khi thông tin tiết lộ đội ngũ đã sử dụng phôi được tạo ra bởi thụ tinh nhân tạo thay vì chuyển đổi nhân để tạo ra cái gọi là nhân bản người.
Mitalipov đã cấy thành công một tế bào da đã phát triển đầy đủ vào một trứng người rỗng và kích thích điện và hoá học để trứng bắt đầu phân chia để sản sinh các tế bào gốc phôi thai. Các tế bào gốc là nền tảng tế bào cho toàn bộ các mô và bộ phận của cơ thể, hy vọng rằng một ngày nào đó họ có thể sử dụng để điều trị các bệnh từ Alzheimer cho đến bệnh tim và tiểu đường.
3. Thuốc “vi khuẩn”
Ruột non của chúng ta có chứa những vi khuẩn có lợi, chúng giúp tiêu hoá thức ăn và bảo vệ chống lại các vi khuẩn gây bệnh. Một lượng vi khuẩn hợp lý có thể giúp đẩy lùi Clostridium, một mầm hoạ gây ra bệnh dịch tại các bệnh viện và có thể gây ra ỉa chảy và viêm ruột dẫn đến tử vong. Gói một cộng đồng vi khuẩn vào trong một viên thuốc là một ý tưởng tuyệt vời của TS. Thomas Louie, ĐH Calgary. Trong số 27 bệnh nhân đã thử nghiệm viên con nhộng dạng gen, không ai bị tái phát nhiễm Clostridium. Họ cũng thích cách thức uống thuốc thuận tiện này hơn là thông ruột.
4. Biến trứng có chất lượng xấu thành trứng khoẻ mạnh
Trứng có chất lượng xấu là nguyên nhân khó thụ thai. Nhưng các nhà khoa học tại ĐH Stanford đã phát triển một kỹ thuật giúp phụ nữ có buồng trứng hoạt động không hiệu quả có thể sản sinh ra trứng trưởng thành khoẻ mạnh. Tiến trình này được gọi là kích hoạt trong ống nghiệm, liên quan tới việc lấy một trứng hay một mô buồng trứng và nuôi cấy trong phòng thí nghiệm bằng protein và các nhân tố khác giúp cho các nang chưa trưởng thành phát triển thành trứng. Mô được nuôi cấy sau đó được ghép trở lại gần ống dẫn trứng. Cho tới nay, 27 phụ nữ tình nguyện thử kỹ thuật này, 5 người đã sản sinh ra trứng có thể sống
được, một người khác mang thai, còn một người nữa đã sinh con khoẻ mạnh.

5. Một liều vaccin thay vì 3 là đủ để ngừa HPV
Vaccin HPV là một trong những cách tốt nhất để chống lại ung thư cổ tử cung, nhưng chỉ có khoảng một nửa số bé gái và bé trai tuổi 11-12 đã hoàn thành cả 3 mũi tiêm. May thay, nghiên cứu gần đây từ một nhóm quốc tế đã tạo ra một liều vaccin duy nhất có thể tạo ra lượng kháng thể cao gấp 24 lần so với trước đó sau khi nhiễm virus, thử nghiệm trên một nhóm phụ nữ ở Costa Rica. Kết quả này cho thấy một liều vaccin có thể là đủ để phòng ngừa HPV.
6. Gene mới gắn với bệnh Alzheimer
Khoảng 10 gen mới được phát hiện có gắn với các dạnh Alzheimer phổ biến, góp phần nâng tổng số gen gắn với căn bệnh này lên 24. Những gen mới có liên quan tới phản ứng miễn dịch và viêm nhiễm của cơ thể, đều gắn với những thay đổi não liên quan tới Alzheimer. Với các nhân tố gen mới này, các nhà nghiên cứu sẽ nhắm tới các loại thuốc có thể điều trị các triệu chứng mất trí nhớ do rối loạn não.

7. Phát hiện sớm bệnh Parkinson:
Các nhà khoa học giờ đây khẳng định rằng các bệnh thoái hoá thần kinh thông thường như Alzheimer và Parkinson, có thể được điều trị tốt hơn nếu có thể phát hiện bệnh và can thiệp điều trị sớm. Chẳng hạn như, vào thời điểm những triệu chứng đầu tiên của bệnh Parkinson xuất hiện, như run ngón tay hay run môi, mất khả năng khứu giác hay biểu lộ khuôn mặt cứng đờ- những tổn thương não và hệ thống thần kinh điều khiển cử động cơ.
Nhưng trong một báo cáo chỉ số sinh học chỉ điểm bệnh Parkinson, các nhà nghiên cứu cho biết một mẩu protein trong tuỷ sống có thể giúp nhận diện bệnh nhân ở các giai đoạn đầu của bệnh. Các nhà nghiên cứu hy vọng phát hiện này có thể mở ra nghiên cứu mới nhằm thử nghiệm khả năng thuốc đã không có tác dụng ở bệnh nhân tiến triển nặng có thể hiệu quả hơn trong khống chế các triệu chứng ở giai đoạn đầu của bệnh.
8. Thay đổi mới đối với điều trị cholesterol
Hướng dẫn cholesterol mới do Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ và trường ĐH Tim mạch Hoa Kỳ đưa ra dựa vào vô số nhân tố gây ra bệnh tim- cộng với mức độ cholesterol cao, và cách tốt nhất để điều trị bệnh. Nếu bạn chưa từng có tiền sử mắc bệnh tim, có nghĩa là một cách tính mới, tính đến các nhân tố tuổi tác, giới, tiền sử hút thuốc, tiểu đường, huyết áp và mức cholesterol có thể giúp bạn và bác sỹ quyết định xem bạn có nên dùng Statin, thuốc hạ cholesterol giúp bạn ngăn ngừa cơn đau tim.
9. Thiết bị thử thai đầu tiên tại nhà

Thiết bị thử thai tiên tiến Clearblue ước lượng tuần là thiết bị đầu tiên được Cơ quan quản lý dược và thực phẩm Hoa Kỳ phê chuẩn không chỉ phát hiện có thai mà còn đo được đã có thai được bao nhiêu lâu kể từ thời gian rụng trứng. Thiết bị thử thai này đo lượng hormone-  chorionic gonadotropin báo hiệu có thai để ước tính.


thuoc chua benh soi than

Ăn tiết canh "giải đen", mùng 1 tết tử vong

Trong bữa cơm tất niên, anh N.T.T. (48 tuổi, Thái Bình) đã ăn tiết canh lợn “giải đen” cho năm cũ, song “vận đỏ” đâu không thấy, anh này phải nhập viện và được chuyển lên BV Bệnh Nhiệt đới Trung ương vì nhiễm khuẩn liên cầu lợn. Ngay đêm mùng 1 Tết, bệnh nhân tử vong do tình trạng quá nguy kịch.
Bác sĩ Nguyễn Trung Cấp, Phó Trưởng khoa Cấp cứu (BV Bệnh Nhiệt đới Trung ương) cho biết, BN được chuyển đến BV đúng vào sáng mùng 1 Tết, trong tình trạng sốc, tụt huyết áp. Trước đó một ngày, BN được điều trị tại BVĐK tỉnh Thái Bình nhưng không tiến triển nên đã được chuyển đến BV Bệnh Nhiệt đới Trung ương. Tại đây, dù đã được các bác sĩ điều trị tích cực, sử dụng các loại thuốc vận mạch tăng huyết áp nhưng BN đã không thể qua khỏi và tử vong ngay trong đêm mùng 1 Tết. Kết quả xét nghiệm dương tính với khuẩn liên cầu lợn.
Tiết canh nhiễm liên cầu lợn

Khai thác tiền sử BN cho thấy, ngày 28 Tết, BN có ăn món tiết canh lợn cùng với 5 người khác trong bữa cơm tất niên, nhưng chỉ có BN này nhiễm bệnh một ngày sau đó với các triệu chứng sốt nóng, sốt lạnh, rối loạn tiêu hóa. Tuy nhiên do chủ quan, BN đã không đến BV điều trị. Đến chiều 30 Tết, người nhà thấy BN mệt, lả đi, huyết áp tụt mới đưa đến trạm y tế xã khám, sau đó chuyển lên BVĐK tỉnh rồi lên thẳng BV Bệnh Nhiệt đới Trung ương khi tình trạng đã quá nguy kịch.
Người nhà BN cho hay, lợn sạch do nhà tự nuôi nên mới dám đánh tiết canh để ăn “giải đen”, không ngờ chưa thấy "vận đỏ" đã mất mạng, tang tóc đúng năm mới!
Theo BS Cấp, ca bệnh này diễn tiến rất nhanh, thể tối cấp. Chỉ sau một ngày sốt bệnh nhân đã tụt huyết áp, sốc dù chưa có những dấu hiệu điển hình của liên cầu. Song, kết quả xét nghiệm đã khẳng định bệnh nhân dương tính với liên cầu lợn. Việc cảm nhiễm vi khuẩn liên cầu phụ thuộc vào cơ địa mỗi người, cũng như số lượng vi khuẩn liên cầu xâm nhập vào cơ thể. Điều này lý giải vì sao chỉ một trong số 5 người đã ăn tiết canh nhiễm bệnh trong trường hợp này.
Cũng trong dịp Tết Nguyên đán vừa qua, BV Bệnh Nhiệt đới Trung ương tiếp nhận gần chục ca bệnh nghi ngờ nhiễm liên cầu lợn và có tiền sử ăn tiết canh. Các ca bệnh này đến rải rác từ các vùng miền và cả tại Hà Nội.
Đáng lo ngại, dù báo chí đã tích cực đăng tải thông tin khuyến cáo của các chuyên gia y tế song hiện vẫn đang tồn tại xu hướng người dân tự nuôi lợn cho gia đình để thịt ăn và đánh tiết canh do nghĩ là lợn “lành”. Dịp tết, rất nhiều gia đình thôn quê đã mổ lợn tại gia và tự đánh tiết canh ăn uống mà không hề biết sợ.
BS Cấp cảnh báo, vi khuẩn liên cầu thường cư trú ở vùng họng con lợn mà không gây bệnh (hay còn gọi là lợn lành mang trùng). Chúng có khả năng sống được 10 phút ở nhiệt độ 60 độ C. Chính vì thế, khi ăn thịt lợn chưa nấu chín, hoặc ăn tiết canh từ những con lợn này, nguy cơ nhiễm bệnh sẽ rất cao. Ngoài ra, trong quá trình chế biến, tiếp xúc trực tiếp (vệ sinh chuồng trại, giết mổ) cũng có thể lây bệnh sang người nếu có các vết xước chân, tay (ở nhiệt độ 25 độ C, khuẩn này sẽ sống được 24 giờ trong bụi và 8 ngày trong phân).
Thời gian ủ bệnh của liên cầu lợn có thể vài tiếng đến 4-5 ngày, tùy cơ địa mỗi người. Người nhiễm liên cầu lợn thường có biểu hiện sốt nóng, sốt lạnh, đi ngoài (nhưng không đi nhiều lần) khiến nhiều người lầm tưởng với các rối loạn tiêu hóa, ngộ độc thực phẩm thông thường. Trong khi đó, liên cầu lợn gây ra tình trạng bệnh lý rất nặng nề, đe dọa tử vong cao, nếu BN qua khỏi cũng để lại nhiều di chứng nặng nề, nhất là khi điều trị muộn.
Do đó, khi có dấu hiệu sốt cao sau ăn tiết canh, các sản phẩm chưa được nấu chín từ lợn, người dân nên chủ động đến các cơ sở y tế để được chẩn đoán, điều trị sớm, hạn chế nguy cơ tử vong. Để phòng bệnh, tuyệt đối không ăn tiết canh, các sản phẩm chưa nấu chín; khi giết mổ, tiếp xúc với chuồng trại chăn nuôi cần mang trang phục bảo hộ tránh mắc bệnh…




thuoc chua benh soi than

Thursday, February 6, 2014

Món ngon giúp cải thiện trí nhớ

Với nguyên liệu dễ dàng mua được ở chợ, siêu thị, chúng ta có thể chế biến được những món ăn cải thiện trí nhớ, tốt cho trí não:
Tôm đất hầm hạt sen:
120g tôm đất, bóc bỏ vỏ và rút đường chỉ trên lưng, ướp gia vị (bột nêm, tiêu, hành băm nhuyễn, đường, nước mắm) trong thời gian 20 phút. 150g hạt sen khô, được rửa sạch. Một bìa đậu phụ được cắt thành miếng vừa ăn. Bắc nồi lên bếp cùng với 2 muỗng canh dầu ăn, phi hành lên cho thơm. Cho tôm vào xào sơ qua. Chế nước dùng vào. Hầm hạt sen và đậu phụ. Khi các nguyên liệu chín, tắt bếp. Thêm chút hành, ngò vào.
Tác dụng: theo YHCT, hạt sen có tác dụng ích thận, cố tinh, dưỡng tâm an thần. Theo kinh nghiệm dân gian, những món ăn được chế biến với hạt sen có tác dụng giúp an thần và giúp ích cho trí nhớ.
Cật heo xào câu kỷ tử với cần tây:
100g cật heo, cắt thành miếng vừa ăn, ướp gia vị (bột nêm, nước tương, hành băm nhuyễn, đường) trong 20 phút. Bắc chảo lên, dùng dầu ăn xào sơ qua cật heo. Thêm 15g câu kỷ tử cùng chút nước. Tiếp tục xào đến khi cật heo gần chín. Cho cần tây vào. Đảo nhanh và đều cho đến khi cật heo chín.
Ức gà hầm với câu kỷ tử và nhân sâm:
150 ức gà thái mỏng. Ướp ức gà bằng hỗn hợp gia vị (bột nêm, nước tương, hành băm nhuyễn, đường) trong thời gian 20 phút. Bắc nồi lên bếp, thêm vào 2 muỗng canh dầu ăn, phi hành lên cho thơm. Xào sơ ức gà. Cho 15g câu kỷ tử, 12g nhân sâm vào. Chế thêm chút nước. Hầm với lửa nhỏ. Khi gà chín, thêm chút hành, ngò vào.
Tác dụng: theo YHCT, câu kỷ tử có tác dụng bổ can thận. Theo kinh nghiệm dân gian, những món ăn được nấu với dược liệu câu kỷ tử có tác dụng tốt trong những trường hợp giảm trí nhớ.
Trứng hấp với rau chân vịt:
100g rau chân vịt. 3 quả trứng gà. Dùng dao thái rau chân vịt thành những những sợi mỏng. Đập trứng bỏ và tô, dùng đũa đánh trứng cho tan. Cho rau chân vịt vào. Thêm bột nêm vừa ăn cùng với hành ta được thái nhỏ. Hấp cho đến khi trứng chín.
Tác dụng: theo các nhà khoa học, rau chân vịt là loại rau tốt cho sức khỏe não bộ và giúp cho trí nhớ. Rau chân vịt chứa nhiều vitamin E và selen có tác dụng chống sự oxy hóa tế bào thần kinh. Trứng giàu chất lecithin khi bị phân giải trong cơ thể sẽ tạo thành chất acetylcholine hết sức quan trọng cho trí nhớ. Chính vì thế, món trứng hấp với rau chân vịt là một trong những món ăn đơn giản nhưng hết sức có lợi cho trí nhớ.
Trứng chim bồ câu chưng với long nhãn, câu kỷ tử:
5 trứng chim bồ câu, luộc chín, bóc vỏ cho vào tô cùng với 15g câu kỷ tử, 15g long nhãn. Thêm tí nước, và chưng cách thủy. Theo YHCT, long nhãn bổ tâm tỳ, kiện não ích trí. Trứng chim bồ câu có tác dụng dưỡng tâm.

Cá hồi sốt nấm:
Cá hồi 150g ướp gia vị (bột nêm, hành, tiêu, đường) trong 10 phút. Sau đó được nướng chín và đặt lên đĩa.
Cách làm nước sốt như sau: ngâm 80g nấm rơm trong nước muối loãng khoảng 10 phút. Vớt nấm ra, rửa sạch. Bắc chảo lên bếp, cho vào chảo ít dầu ăn, cho một ít hành băm vào và phi lên cho thơm. Xào nấm. Lấy 1 bát nước, cho một ít bột năng vào, quậy đều. Chế nước bột năng vào chảo nấm. Khi nấm chín, thêm ít bột nêm. Dùng nước sốt này rưới đều lên cá hồi đã được nướng chín trước đó. Thêm ít hành, ngò, tiêu vào. Dùng khi còn nóng.
Tác dụng: cá hồi giàu chất đạm và omega-3 có tác dụng chống oxy hóa tế bào thần kinh, giúp ích cho trí nhớ

thuoc chua benh soi than

Ý nghĩa của các dạng bào chế thuốc

Nếu so sánh với những màu sắc của hoa lá thì thuốc cũng đa dạng như vậy. Các dạng viên bao, viên nang mềm hay nang cứng có nhiều kiểu dáng đẹp long lanh như những hạt ngọc trai giúp cho nhiều người thân thiện hơn với thuốc nếu bắt buộc phải dùng đến dược phẩm.
Viên nang đóng vỉ
Là dạng thuốc hay gặp nhất trên thị trường và được dùng phổ biến trong cộng đồng vì đây là dạng thuốc dễ bảo quản, người bệnh tự sử dụng theo hướng dẫn của thầy thuốc, không cần có sự hỗ trợ của các dụng cụ y tế khác như thuốc tiêm. Viên nang có thể là nang rắn hay nang mềm, được phân liều chính xác và được bào chế dưới dạng thích hợp (dung dịch, bột, hạt) đựng trong vỏ nang làm bằng gelatin hay tinh bột. Với dạng bào chế này, thuốc có thể che giấu được mùi vị khó chịu, làm cho thuốc dễ uống, tránh được các tác động bên ngoài, bảo vệ thuốc không bị dịch vị phá hủy. Vì vậy, không nên nhai để tránh làm hỏng vỏ nang, không tách bỏ vỏ nang để lấy phần dược chất bên trong để uống. Riêng đối với người lớn tuổi, phản xạ nuốt có thể giảm và có hiện tượng giảm tiết nên khi uống người bệnh có thể ngậm viên thuốc trong miệng để làm mềm vỏ nang rồi nuốt với nước nhằm tránh hiện tượng thuốc dính ở thực quản. Người ta thường đựng viên thuốc trong vỉ thiếc hoặc lọ thủy tinh, lọ nhựa... Việc sắp xếp viên thuốc thẳng hàng hoặc nằm chéo trên vỉ, số lượng viên trong mỗi vỉ thuốc cũng đã được nghiên cứu rất kỹ để tiện lợi cho việc sử dụng theo liệu trình điều trị của người bệnh. Ta thấy có những vỉ thuốc có 1, 2, 5 viên, 10 viên, 12 viên, 30 viên hoặc nhiều hơn nữa là để phù hợp với từng loại thuốc. Số viên thuốc trên vỉ hoặc trong lọ không nhất thiết phải chẵn chục. Chẳng hạn như thuốc chữa viêm loét dạ dày tá tràng có những phác đồ điều trị 14 ngày nên số thuốc thường là 14 hoặc 28 tùy theo từng loại. Một dược sĩ làm công nghiệp dược đã đề xuất đóng vỉ 12 viên thay vì đóng 10 viên/vỉ mặc dù phải chi thêm kinh phí để cải tiến dây chuyền sản xuất. Như vậy, vỉ 12 viên sẽ dùng chẵn cho 3 ngày (4 viên/ngày) giúp bệnh nhân dễ phân liều và khỏi quên thuốc.

Viên nén
Cũng là dạng thuốc chiếm số đông trên các quầy hàng, kệ thuốc ở các nhà thuốc hiện nay. Có nhiều hình dạng, kích thước cho mỗi dạng thuốc viên nén; có thể được điều chế bằng cách nén một hay nhiều dược chất. Mỗi viên nén là một đơn vị liều, do đó rất dễ sử dụng, dễ vận chuyển và dễ bảo quản. Tốt nhất nên uống với nhiều nước (nước đun sôi để nguội, khoảng 200ml, tức là một ly to). Tuy nhiên, viên nén có tác dụng chậm hơn thuốc tiêm, khó uống đối với trẻ em, người lớn tuổi, người đang bị hôn mê. Người ta thường bao bọc viên nén bằng một lớp màng thích hợp nhằm mục đích che giấu mùi vị khó chịu của dược chất, tránh được các tác động bên ngoài, bảo vệ thuốc không bị dịch vị phá hủy, hay kiểm soát sự giải phóng dược chất (giúp giải phóng thuốc chậm). Viên ngậm thường được dùng để sát khuẩn, chống viêm trong khoang miệng. Dược chất được phóng thích từ từ. Viên ngậm dưới lưỡi thường được dùng khi cần tác dụng nhanh của thuốc hoặc tránh sự phân hủy ở dịch vị và ở gan. Dược chất phải được phóng thích nhanh và nhanh chóng cho tác dụng toàn thân.
Viên sủi
Là một trong những dạng viên pha dung dịch hay hỗn dịch dùng để uống hoặc dùng ngoài với ưu điểm là rất thích hợp cho những người khó nuốt viên nén, giảm kích ứng niêm mạc cho một số dược chất, tăng sinh khả dụng cho một số viên nén, che giấu mùi vị. Nhưng viên sủi bọt phải được điều chế và bảo quản trong điều kiện tránh ẩm do chứa một lượng muối kiềm khá lớn (natri carbonat, natri hydrocarbonat, kali carbonat) nên không dùng viên sủi cho người kiêng muối. Một số trường hợp viên sủi gây kiềm hóa máu làm ảnh hưởng đến hấp thu một số chất. Với người bị tăng huyết áp có thể vẫn dùng thuốc viên sủi được nếu sử dụng muối tạo khí là KHCO3, vì kali trong máu có vai trò hạ áp. Mặt khác, acid sử dụng là vitamin C (acid ascorbic) để tạo khí có vai trò làm bền vững thành mạch, ổn định huyết áp. Hai loại tá dược: KHCO3 và ascorbic được sử dụng nhiều trong bào chế viên sủi cho người tăng huyết áp. Viên sủi bọt thường có kích thước khá lớn vì không phải để uống trực tiếp vào miệng mà phải pha thành dung dịch rồi mới uống. Các kệ hàng dược phẩm thường bày các týp tròn mỗi lọ có 10-20 viên sủi và bán không cần đơn. Cũng lưu ý các nhà thuốc, quầy thuốc chú ý cảnh giác vì với những lọ viên sủi này thường hay để trên mặt quầy thuốc như một hình thức quảng cáo đôi khi lại gây tò mò cho những người mua thuốc. Họ có thể tiện tay cầm xem và bóc mở nắp hộp nhiều lần ảnh hưởng đến chất lượng thuốc.


thuoc chua benh soi than