Thursday, April 3, 2014

Sự thật về đẻ mổ khiến mẹ "giật mình"


Ai cũng nói đẻ mổ thật nhẹ nhàng nhưng thực tế không hoàn toàn như vậy.
Ngày nay, tỷ lệ các mẹ bầu chọn phương pháp sinh mổ không ngừng gia tăng tới 30% các ca sinh nở. Nguyên nhân của nhu cầu này được cho là do tâm lý sợ đau đẻ, sợ hỏng "vùng kín" và có tính thẩm mỹ cao… Tuy nhiên, để có được điều này, mẹ cũng phải đánh đổi rất nhiều thứ và qua một lần sinh mổ tôi tự nhận ra rất nhiều sự thật khiến tôi bàng hoàng, không hề như những gì mình đã được nghe và biết về đẻ mổ.
Bỗng dưng bị cạo lông mu
Tôi đã thật bất ngờ khi vừa bước lên bàn mổ đẻ đã bị y tá yêu cầu kéo quần để vệ sinh "vi-ô-lông". Theo lời y tá trong ekip mổ đẻ của tôi thì việc làm này nhằm giúp đảm bảo an toàn cho khu vực quanh vết mổ. Trong thời gian mang thai, tôi đã tìm hiểu về phương pháp sinh mổ nhưng chưa bao giờ đọc đến điều này và tôi đã vô cùng lúng túng khi để các y tá vệ sinh vùng "vi-ô-lông" cho mình. Vì vậy, tôi khuyên các mẹ trước khi đẻ mổ nên tự làm sạch vùng này để khỏi rơi vào tình trạng lúng túng như tôi.
Giây phút bé chào đời không long trọng như bạn nghĩ
Bạn có thể đang khá căng thẳng chuẩn bị cho sự ra đời của con yêu, một sự kiện chắc chắn là vô cùng thiêng liêng và quan trọng đối với mẹ nhưng xung quanh bạn, các y tá vẫn có thể vui vẻ tám chuyện về những chuyện chẳng hề liên quan như họ vừa khám phá một nhà hàng với đồ ăn cực ngon hay một cửa hàng quần áo đang bán phá giá.
Mẹ chớ nên ngạc nhiên hay tức giận về điều này vì có thể đối với bạn đây là khoảnh khắc vô cùng ý nghĩa nhưng đối với họ đây chỉ là một công việc hàng ngày mà thôi. Các y tá cũng có thể sẽ cố gắng bắt chuyện với bạn, tâm sự để hiểu bạn hơn, giúp bạn phần nào vui vẻ hơn, quên đi mệt mỏi và nỗi đau đớn của ca mổ đẻ. Bạn cũng nên nhớ rằng nếu các nhân viên trong ê kíp đỡ đẻ của bạn có thể thoải mái cười đùa với nhau, đó cũng là một dấu hiệu cho thấy rằng họ là một nhóm khá ăn ý và việc phẫu thuật sinh mổ có vẻ như không phải là một công việc quá khó khăn đối với họ.
Có mùi gì đó cháy…
Khi bạn được gây tê, chỉ những bộ phận từ nửa lưng dưới xuống mới bị tê liệt còn tất cả những bộ phận bên trên đều hoạt động bình thường. Điều này đồng nghĩa với việc mẹ vẫn có thể nghe thấy âm thanh của dụng cụ mổ, ngửi thấy mùi và cảm nhận thấy từng đường dao trên cơ thể… Trong khi sinh mổ tôi đã ngửi thấy mùi gì đó như mùi cháy của bắp rang bơ nhưng mãi sau này tôi mới biết đó là mùi của các thiết bị phẫu thuật được đốt cháy sẽ khiến tôi bớt bị mất nhiều máu hơn.
Áp lực lắm!
Ca sinh mổ chỉ kéo dài trong khoảng 1 giờ nhưng vô cùng áp lực đặc biệt với sản phụ bởi chúng ta vẫn có thể cảm nhận được hết mọi việc đang diễn ra xung quanh mình. Tôi còn nhận thấy rõ bàn tay ai đó ấn thật mạnh trên ngực mình rồi cảm giác chờ đợi từng giây phút nghe tiếng khóc của con, căng thẳng đến nghẹt thở.
Có ống thông rất lạ
Sau khi mổ, mẹ sẽ được gắn ống để dẫn các dịch thải từ vết thương ra bên ngoài. Bác sĩ cũng sẽ khuyến khích bạn cố gắng ngồi dậy và đi bộ nhẹ nhàng trong vòng 8 đến 12 giờ đồng hồ để giúp cơ thể bạn phục hồi nhanh hơn đồng thời để ngăn chặn các hiện tượng máu đông. Ống thông này sẽ khiến mẹ phải nằm liệt giường trong những giờ đầu sau sinh, sẽ rất khó chịu nhưng mẹ hãy cố gắng chịu đựng. Khi đã đi lại được, mẹ sẽ được tháo ống thông tiểu.
Y tá massage tử cung mẹ
Tôi đã đau tái mặt khi y tá thường xuyên đến xoa bóp vùng bụng gần vết mổ. Mãi sau này hỏi ra mới biết đây là cách massage tử cung để giúp tử cung co bóp và giúp sản dịch nhanh được tống ra ngoài. Tuy nhiên, vì không được chuẩn bị tâm lý trước nên tôi đã rất bất ngờ với việc làm này.
Theo Khám phá


Wednesday, April 2, 2014

Phụ nữ có thai có dùng được Berberin?

Nhiều người quan niệm rằng berberin là thuốc thảo dược từ thiên nhiên nên không độc, không có tác dụng phụ gì và dùng được cho phụ nữ mang thai. Tuy nhiên, đối với phụ nữ mang thai thì lại không nên dùng thuốc này vì nó có thể gây co bóp tử cung làm ảnh hưởng tới thai nhi.
Từ lâu, berberin đã được biết đến như một thuốc vừa rẻ, vừa an toàn và hiệu quả cho các bệnh nhiễm khuẩn đường tiêu hóa. Berberin có vai trò như một kháng sinh thực vật, vừa diệt khuẩn tốt lại không gây ra loạn khuẩn ruột như hầu hết các kháng sinh khác.
Berberin là hoạt chất được chiết từ cây hoàng đằng (còn có tên vàng đắng, hoàng liên), tên khoa học là Coptis teet..., là loại cây dây leo thân gỗ có phân nhánh, mọc hoang ở nhiều nơi. Trong hoàng đằng có nhiều alcaloid dẫn xuất của izoquinolein, chủ yếu là berberin tỷ lệ từ 1,5 - 3%. Các tác dụng chủ yếu của berberin là chống tiêu chảy do vi khuẩn, ký sinh trùng đường ruột. Berberin còn được bào chế thành thuốc nhỏ mắt điều trị viêm kết mạc, đau mắt đỏ do kích thích bên ngoài như (gió, nắng, lạnh, bụi, khói...) và điều trị bệnh mắt hột. Ngoài ra, berberin cũng có thể giúp ngăn ngừa nhiễm nấm, bội nhiễm nấm và còn có tác dụng chống lại tác hại của vi khuẩn tả và E.coli - loại vi khuẩn sinh ngoại độc tố bền với nhiệt.
Berberin rất lành tính, rất hiếm gặp trường hợp dùng mà bị dị ứng. Tuy nhiên, đối với những người quá mẫn cảm với thuốc và phụ nữ có thai thì không nên dùng vì berberin có khả năng gây kích thích co bóp tử cung.
BS. Bảo Thư


Tuesday, April 1, 2014

Mướp đắng chữa tiều đường, sỏi thận, giảm cholesterol

Mướp đắng hay còn gọi là khổ qua là một loại thực phẩm trong các bữa ăn hằng ngày. Không những vậy mà nó còn là vị thuốc Đông y chữa được rất nhiều bệnh.
Mướp đắng được sử dụng nhiều trong bữa ăn gia đình, mướp đắng để nấu canh, hầm với thịt hoặc có thể ăn sống kèm dăm bông. Ngoài ra mướp đắng là một vị thuốc đông y có thể chữa được rất nhiều bệnh như: Tiểu đường, cao huyết áp, sỏi thận, bổ gan và là nguồn Vitamin K dồi dào. Mướp đắng ở miền nam còn gọi là trái khổ qua và được trồng rất nhiều. Bạn có thể chọn mua mướp đắng ngay ở chợ hoặc ở siêu thị.
Ngoài ra, mướp đắng còn có các tác dụng dược lý sau:
- Chống các gốc tự do – nguyên nhân gây lão hóa và phát sinh các bệnh tim mạch, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, tổn thương thần kinh, viêm đường tiết niệu, tiểu đường…
- Tăng ôxy hóa glucose, ngăn chặn sự hấp thu glucose vào tế bào. Ức chế hoạt tính các men tổng hợp glucose.
- Có tác dụng sinh học giống insulin, giúp cơ thể tăng tiết insulin, rất tốt đối với bệnh nhân tiểu đường dạng 2.
Mướp đắng khi ăn sống sẽ hấp thụ toàn bộ giá trị dinh dưỡng. Nghiên cứu gần đây phát hiện, mướp đắng có tác dụng giải trừ chất béo, mỗi ngày ăn từ 2 – 3 quả mướp đắng sẽ giúp bạn chống béo phì.
Bạn cũng có thể dùng nước đun sôi để chần qua hoặc xào nấu bằng dầu, vị đắng có thể giảm đi. Tuy nhiên thành phần dinh dưỡng trong mướp đắng khi xào nấu đã mất đi đáng kể.
Dù có vị hơi đắng, nhưng mướp đắng (hay khổ qua) lại rất hữu ích với sức khỏe. Để có được lợi ích đó, hãy tìm mua và nấu ăn nó thường xuyên.
1. Bệnh tiểu đường loại II
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng mướp đắng làm giảm lượng đường trong máu thông qua việc tăng cường trao đổi glucose. Uống một cốc nước ép mướp đắng mỗi ngày và trải nghiệm hiệu quả. Ngừng uống nếu bạn bị đau bụng, tiêu chảy hoặc sốt. Theo dõi lượng đường trong máu thường xuyên và điều chỉnh thuốc khi cần thiết, với sự trợ giúp của bác sĩ.
2. Sỏi thận
Sỏi thận cực kỳ đau đớn. Mướp đắng có thể giúp bạn thoát khỏi căn bệnh này một cách tự nhiên. Mướp đắng làm giảm axit cao gây ra sỏi trong cơ thể. Hòa bột mướp đắng với nước để tạo thành một loại trà hữu dụng cho sức khỏe. Loại trà này có hương vị hấp dẫn và bạn có thể sử dụng mà không cần thêm đường.

3. Giảm lượng cholesterol
Mướp đắng giúp làm giảm lượng cholesterol, từ đó giúp bạn thoát khỏi nguy cơ mắc bệnh đau tim và đột quỵ. Cholesterol cao chỉ có thể được chẩn đoán bằng xét nghiệm máu. Ăn mướp đắng thường xuyên sẽ đem lại hiệu quả đáng ngạc nhiên.
4. Ung thư tuyến tụy
Một trong những lợi ích sức khỏe đáng ngạc nhiên nhất của mướp đắng là đặc tính chống ung thư. Mướp đắng đã được chứng minh có tác dụng làm gián đoạn việc sản xuất đường, có khả năng ức chế sự tăng trưởng của tế bào ung thư tuyến tụy. Nó cũng có thể ức chế tế bào ung thư khác trong gan, đại tràng, vú, hoặc tuyến tiền liệt.
5. Tăng cường miễn dịch
Một hệ miễn dịch khỏe mạnh là quan trọng cho việc chống nhiễm trùng và bệnh tật. Mướp đắng giúp ngăn ngừa cảm lạnh và có lợi cho hệ tiêu hóa. Nó còn giúp ngăn chặn hoặc hạn chế dị ứng thực phẩm, loại bỏ các bệnh nhiễm trùng nấm men tự nhiên. Một lợi ích khác là giúp điều trị chứng trào ngược axit và chứng khó tiêu.
6. Giảm cân
Mướp đắng có chứa nhiều vitamin và khoáng chất bổ dưỡng có lợi cho cơ thể, chứa một lượng calo rất ít, lượng chất xơ lại khá cao. Bạn có thể ăn một lượng khá lớn mướp đắng mà cũng không dung nạp một lượng calo lớn. Chất xơ trong mướp đắng làm chậm quá trình tiêu hóa làm bạn cảm thấy ít đói, giúp bạn kiềm chế sự thèm ăn và tạo cảm giác no.
Mướp đắng với khả năng hạn chế lượng calo nạp vào cơ thể đồng thời axit amin tự nhiên có trong thành phần của mướp đắng sẽ giúp trung hoà lượng chất béo trong thức ăn hàng ngày, ngăn chặn quá trình tích tụ mỡ dưới da hiệu quả.
7. Bổ gan
Mướp đắng là thực phẩm bổ gan, hỗ trợ tiêu hóa, cải thiện chức năng túi mật, và làm giảm tích trữ chất lỏng. Xơ gan, viêm gan, táo bón có thể thuyên giảm bởi mướp đắng. Bạn nên uống nước ép mướp đắng ít nhất một lần một ngày. Mướp đắng cũng hỗ trợ giảm cân và làm giảm triệu chứng ruột kích thích.

8. Chuyển hóa carbonhydrate
Đây là một lợi ích rất quan trọng đối với những người có bệnh tiểu đường loại II. Carbohydrate chuyển sang đường, và mướp đắng giúp chuyển hóa các loại đường. Chuyển hóa carbohydrate nhanh hơn có nghĩa là ít chất béo được lưu trữ trong cơ thể hơn dẫn đến giảm cân và duy trì cân nặng khỏe mạnh. Chuyển hóa carbohydrate nhanh cũng hỗ trợ tăng trưởng và phát triển cơ bắp.
9. Nguồn Vitamin K dồi dào
Vitamin K giúp tăng cường sức khỏe của xương, chống đông máu, và là chất chống viêm. Vitamin K giúp cải thiện chứng viêm khớp, đau khớp. Việc bổ sung mướp đắng đáp ứng nhu cầu vitamin K hàng ngày cho cơ thể bạn. Ngoài ra, nó cũng là nguồn chất xơ tuyệt vời mà bạn không nên bỏ qua.
10. Tốt cho da
Mướp đắng rất có lợi cho da. Uống nước ép mướp đắng thường xuyên có thể làm làn da trắng và mịn màng, giảm mụn trứng cá. Mướp đắng thậm chí còn giúp điều trị bệnh vẩy nến và eczema… Hãy thử món canh mướp đắng để chữa các bệnh ngoài da hoặc cho làn da đẹp hơn.
Lưu ý khi sử dụng mướp đắng:
Mướp đắng được coi là thực phẩm giải nhiệt mùa hè, nhưng không phải ai cũng ăn được, chẳng hạn nhưng phụ nữ mang thai và đang cho con bú không được ăn mướp đắng, bởi nó có thể gây co thắt tử cung, xuất huyết và làm hư thai.
Bên cạnh đó, mướp đắng cũng được coi là một loại quả kích thích tử cung và có thể dẫn đến sinh non. Phụ nữ đang cho con bú cũng không nên ăn mướp đắng vì một số thành phần không tốt có thể được truyền qua sữa mẹ.
Độc tính ở người lớn thấp, nhưng có vấn đề với trẻ em. Mặc dầu chưa nghe quả mướp đắng nguy hiểm cho bào thai tại Việt Nam, nhưng những nghiên cứu trên cho thấy, hạt mướp đắng có thể làm hư thai và quả mướp đắng có khả năng gây đột biến gen. Do đó không nên dùng cho phụ nữ có thai…

Biến chứng của bệnh quai bị

Quai bị có thể gây nên một số biến chứng ảnh hưởng tới sức khoẻ sau này của người bệnh. Nhận biết sớm các biểu hiện để xử lý kịp thời có thể tránh được hậu quả đáng tiếc xảy ra.
1. Biến chứng viêm não - viêm màng não
Xảy ra bất chợt và dữ dội, thường vào ngày thứ 3 - 10 sau khi viêm tuyến mang tai. Người bệnh sốt cao, nhữ đầu, ói mửa, đôi khi co giật, gáy cứng, rối loạn tri giác hoặc có biểu hiện rối loạn thần kinh sọ.
Số đông người bệnh nhẹ có thể hồi phục hoàn toàn do diễn biến của viêm não và màng não là lành tính. Còn nếu bị nặng, sẽ ngất và hôn mê. Cần phải có sự can thiệp ngay của các bác sĩ.
2. Biến chứng viêm tinh hoàn
Đây là biến chứng thường gặp nhất, đặc biệt ở bé trai tuổi dậy thì và thanh niên. Biến chứng xảy ra sau 7 - 10 ngày viêm tuyến mang tai, cũng có khi cùng lúc. Người bệnh đột nhiên sốt cao 40 - 41 độ C, lạnh run, nhức đầu, mê sảng, ói mửa, đau bụng, tinh hoàn sưng to, đau nhữ nhưng không làm mủ. Tình trạng này kéo dài khoảng 1 tuần thì giảm.
Phần lớn các bệnh nhân viêm tinh hoàn một bên, vài tháng sau chức năng của tinh hoàn bị viêm được phục hồi. Chỉ khi 2 tinh hoàn cùng viêm và teo, người bệnh sẽ mất khả năng sản xuất tinh trùng và không có con. Nếu viêm tinh hoàn bên phải, người bệnh còn có thể bị đau ruột thừa.
3. Biến chứng viêm tuỵ tạng cấp
Biến chứng này ít gặp, thường xuất hiện vào ngày thứ 3 đến ngày thứ 7 sau khi viêm tuyến mang tai, người bệnh sốt cao, đau bụng, nôn, truỵ mạch. Diễn biến của viêm tuỵ tạng cấp khá lành tính. Người bệnh chỉ cần được nghỉ ngơi, uống thuốc hạ sốt, giảm đau là có thể hồi phục sau 2 tuần.

Bệnh quai bị: Không nguy hiểm nhưng dễ di chứng

Cùng với sự gia tăng các bệnh đường hô hấp, tiêu chảy ở trẻ em trong mùa nắng nóng, bệnh quai bị cũng bắt đầu xuất hiện. Phần lớn bệnh rơi vào lứa tuổi thanh thiếu niên, nhất là với các nam học sinh.

Bệnh quai bị dân gian thường gọi là bệnh “ông địa” do siêu vi trùng thuộc nhóm Paramyxovirus có liên quan đặc biệt đối với các tuyến nước bọt, tuyến tụy, tinh hoàn... và hệ thần kinh gây ra. Quai bị là bệnh toàn thân, viêm tuyến mang tai là phổ biến và điển hình của bệnh quai bị, ngoài ra còn gặp viêm tinh hoàn, viêm buồng trứng, viêm màng não, tổn thương các dây thần kinh sọ.... Bệnh thường phát vào cuối mùa xuân, nhất là tháng 4 và tháng 5, trong các môi trường tập thể như trường học, nhà trẻ. Tuổi nào cũng có thể bị bệnh quai bị, khả năng mắc bệnh ở nam cao hơn nữ. Tuy nhiên ít gặp quai bị ở trẻ dưới 2 tuổi mặc dù trẻ chỉ được bảo vệ trong 6 tháng đầu nếu mẹ đã từng mắc bệnh quai bị. Sau 2 tuổi, tần suất bệnh tăng dần, đạt đỉnh cao ở lứa tuổi 10 - 19.
Sau khi tiếp xúc với virus quai bị khoảng 14 - 24 ngày, người bệnh có cảm giác khó chịu, ăn kém, sốt, đôi khi rét, đau họng và đau góc hàm. Sau đó, tuyến mang tai sưng to dần trong khoảng 3 ngày rồi giảm sưng dần trong khoảng 1 tuần. Tuyến mang tai có thể sưng 1 bên hay 2 bên. Nếu sưng cả 2 bên thì 2 tuyến có thể không sưng cùng lúc, tuyến 2 bắt đầu sưng khi tuyến 1 đã giảm sưng. Vùng sưng thường lan đến má, dưới hàm, đẩy tai lên trên và ra ngoài, có khi lan đến ngực gây phù trước xương ức. Bệnh nhân có cảm giác đau ở vùng tuyến bị sưng nhưng da trên vùng sưng không nóng và không sung huyết, ngược với những trường hợp viêm tuyến mang tai do vi trùng. Lỗ ống Stenon ở niêm mạc má 2 bên sưng đỏ, có khi có giả mạc. Bệnh nhân có cảm giác khó nói, khó nuốt, đôi khi phù thanh môn gây khó thở phải mở khí quản. Thời gian biểu hiện bệnh lý khoảng 10 ngày.
Tuy nhiên, có khoảng 25% người bị nhiễm virus quai bị mà không có triệu chứng bệnh lý, đây là những đối tượng có khả năng truyền bệnh.
Theo bác sĩ Lê Thân, có thể chữa bệnh quai bị bằng cách sau: Dùng thuốc kháng sinh không có tác dụng mà chỉ điều trị theo triệu chứng. Chườm nóng, thuốc an thần, giảm đau, vitamin có thể dùng chống viêm, súc miệng nước muối thường xuyên sau khi ăn. Những ngày đầu nên ăn nhẹ, ăn lỏng. Có thể kết hợp dùng thuốc bôi ngoài da như hạt gấc giã nát trộn giấm thanh bôi ngoài, hoặc rau sam giã nát đắp. Mực tàu loại tốt mài phết lên vùng sưng. Trắc bá diệp, lá mã đề lượng bằng nhau giã nát đắp. Đậu đỏ, giấm, trứng gà vừa đủ; đậu đỏ tán mịn, dùng lòng trắng trứng gà và giấm, trộn thành hồ để phết lên nơi sưng. Hoặc lá lô hội giã nát, đắp lên chỗ sưng đau; đồng thời dùng lá lô hội 20g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 - 3 lần. Chú ý không được dán cao bột, dầu cao hay đắp thuốc nóng. Đặc biệt là tránh vận động mạnh.
Bệnh quai bị ở người lớn thường nặng và có nhiều biến chứng hơn ở trẻ em. Bác sĩ Lê Thân – Bệnh viện Y học dân tộc tỉnh cho biết, quai bị là bệnh dễ lây nên lúc phát bệnh cần chú ý phòng tránh. Bệnh nói chung tiên lượng là tốt, nhưng có thể gây hậu quả tai hại vì những thể bệnh và biến chứng nặng như vô sinh, viêm não....Y học hiện đại chưa có thuốc điều trị đặc hiệu nên bệnh này có thể dùng đông tây y kết hợp. Virus quai bị có thể gây tổn thương nhiều cơ quan của cơ thể, nhưng bộ phận đáng lo ngại nhất của bệnh quai bị là gây viêm tinh hoàn cho nam giới. Viêm tinh hoàn do virus quai bị thường gặp ở lứa tuổi đang dậy thì và cả lứa tuổi trưởng thành (thanh thiếu niên). Tỷ lệ bị viêm tinh hoàn còn tùy thuộc vào từng vụ dịch (tức là phụ thuộc vào độc lực của virus), tình trạng sức đề kháng của cơ thể. Đặc điểm của viêm tinh hoàn thường xảy ra 1 bên. Tỷ lệ viêm tinh hoàn 2 bên ít hơn. Sau khi viêm tuyến nước bọt từ 5 - 7 ngày thì xuất hiện viêm tinh hoàn. Bệnh nhân thấy xuất hiện sốt trở lại, đôi khi nhiệt độ còn tăng hơn lúc ban đầu của viêm tuyến nước bọt. Tinh hoàn sưng to, đau. Sờ vào tinh hoàn thấy chắc. Da bìu bị phù nề rõ rệt, căng, bóng, đỏ.
Ngoài biến chứng viêm tinh hoàn ở nam giới thì nữ giới khi bị quai bị cũng có thể bị viêm buồng trứng tuy rằng tỷ lệ thấp. Viêm tụy, viêm não, màng não cũng có thể gặp trong bệnh quai bị nhưng không nhiều. Mặc dù những bệnh này gặp trong viêm quai bị là thấp nhưng rất nguy hiểm có thể đe dọa đến tính mạng.
Hiện nay, tất cả các cơ sở y tế, trung tâm y tế dự phòng trên địa bàn toàn tỉnh đều có tiêm phòng vắc xin cho loại bệnh này, thường kết hợp với phòng sởi và rubella (Trimovax, MMR). Các bác sĩ cảnh báo không nên tiêm vắc xin cho trẻ dưới 1 tuổi (tuy nhiên nếu trẻ sống trong môi trường tập thể, có thể tiêm ngừa từ 9 tháng tuổi), phụ nữ có thai, người bị dị ứng với thuốc chủng, người đang dùng thuốc gây giảm miễn dịch (corticoid, thuốc điều trị ung thư), người đang điều trị với tia phóng xạ. Phòng bệnh quai bị thụ động với globulin miễn dịch, dùng cho người tiếp xúc với virus quai bị mà chưa được tiêm vắc xin trước đó.
Cũng cần thiết phân biệt giữa quai bị và viêm tuyến nước bọt thông thường. Loại bệnh này đơn giản, dễ chữa nhưng nếu chữa muộn cũng có khả năng gây biến chứng là làm biến dạng khuôn mặt.

Những điều trong ăn uống mà bệnh nhân viêm đại tràng cần lưu ý

Viêm đaị tràng là bệnh liên quan đến tiêu hóa nên chế độ ăn uống hàng ngày của bệnh nhân cần được đặc biệt chú ý. Một thực đơn hợp lý lành mạnh không những giúp người bệnh giảm bớt được những cơn đau  mà còn hỗ trợ quá trình điều trị bệnh viêm đại tràng. Vậy người bệnh nên và không nên ăn gì? Mời các bạn theo dõi bài viết dưới đây.

Nên ăn
Do các tác nhân gây bệnh làm tổn thương niêm mạc ruột, rối loạn tiêu hóa và bài tiết. Vì vậy người bệnh nên bổ sung dinh dưỡng phù hợp vừa đẩy lùi bệnh tật, vừa cung cấp đủ chất cho cơ thể
Ăn thực phẩm chứa nhiều chất đạm từ cá, sữa đậu nành, sữa không lactose để bổ sung đạm cần thiết cho cơ thể. Thịt nạc nên xay và vo viên giúp cơ thể tiêu hóa dễ hơn khi dùng miếng lớn.
Người bệnh bị táo bón bổ sung chất xơ chứa trong các loại hoa quả và rau xanh.
Bị tiêu chảy thức ăn chứa nhiều chất xơ cellulose như khoai mì,khoai lang, đậu đen, đậu nành, rau muống, sầu riêng…
Thức ăn chế biến cho người viêm đại tràng thường dưới dạng luộc, hấp, hoặc kho, hạn chế các món xào rán.

Không nên ăn
Theo dõi chặt chẽ thực đơn của người bị viêm đại tràng, nếu ăn món ăn nào mà có cảm giác khó chịu thì cần phải tránh ngay. Người bệnh không nên sử  dụng thức ăn:
Không nên ăn chất xơ dạng không tan như cellulose để hạn chế thành ruột bị “cọ xát”.
Đậu quả, bông cải xanh, ngô, nấm và hành củ chưa hàm lượng chất xơ cao, có thể gây đầy hơi, chướng bụng nên hạn chế.

Không nên dùng các loại đồ uống rượu, bia, cà phê, trà…hoặc các thức uống chứa chứa cafein như nước ngọt có gas và nước tăng lực vì nó có thể khiến người bệnh khó kiểm soát triệu chứng bệnh.
Không hút thuốc lá, ăn đồ cay như ớt, tiêu, tránh các thức ăn ôi thiu và nhiễm khuẩn hóa chất.
Giảm tối đa lượng chất béo, các loại thực phẩm có nhiều lactose như sữa, quả ngọt, mật ong… khi bị táo bón. Vì bệnh nhân kém hấp thu các chất này, ăn vào dễ bị đầy hơi, tiêu chảy.

Hạn chế các loại gia vị và nước sốt có nhiều chất béo như mayonaise hoặc nước sốt chuyên dùng với các món mì vì trong một số trường hợp nó có thể gây ra các triệu chứngviêm loét đại tràng.
Thay đổi chế độ dinh dưỡng là một yếu tố quan trọng trong việc điều trị căn bệnh viêm đại tràng. Bệnh nhân cần tăng cường ăn chất xơ, đồng thời phải kiêng rất nhiều thứ như chất béo, chất kích thích và một số loại thuốc.
Nên bổ sung chất xơ

Sau đây là một số điều trong ăn uống mà bệnh nhân viêm đại tràng mạn cần lưu ý:

1. Những ngày không đau: Để giữ gìn sức khỏe, tạo sức đề kháng, tăng sức chịu đựng trong lúc bị cơn đau hành hạ, hãy tranh thủ ăn uống tẩm bổ những khi bệnh chưa dở "chứng”.

2. Khi bị táo bón: Giảm chất béo, tăng chất xơ (đặc biệt là dưới dạng hòa tan như pectin, inuline, oligofructose...). Ăn làm nhiều bữa nhỏ, chừng hơn 2 tiếng lại ăn một bữa.

3. Khi bị tiêu chảy: Tránh hẳn chất xơ dạng không tan như cellulose để thành ruột khỏi bị “cọ xát”. Không ăn rau sống, trái cây khô, trái cây đóng hộp, nếu ăn trái cây tươi thì phải gọt bỏ vỏ (kể cả nho). Có thể ăn trái cây xay nhừ như chuối, táo.

4. Tránh chất kích thích: Những thực phẩm có chất kích thích thần kinh như cà phê, chocolate, trà...đều phải kiêng.

5. Hạn chế các sản phẩm từ sữa: Trong sữa có loại đường lactose rất khó tiêu. Ngoài ra, chất đạm của sữa có thể gây dị ứng cho bệnh nhân. Hãy thay thế bằng sữa đậu nành.

6. Hạn chế mỡ: Tránh những thức ăn có hàm lượng dầu mỡ quá cao như các món rán, xào, sốt.

7. Tránh các thuốc kháng viêm, giảm đau không steroid: Những thuốc như Aspirin, Ibuprofen, Naprosyn, Voltaren, Feldene... có thể “ăn mòn” niêm mạc dạ dày, ruột, làm tăng nguy cơ xuất huyết.

8. Uống 1 viên đa sinh tố, muối khoáng mỗi ngày: Những viên này chứa ít nhất 400 mcg axit folic, khắc phục tình trạng thiếu axit này do dùng thuốc Sulfasalazine.

Lưu ý: Bệnh viêm đại tràng mạn có thể nặng thêm nếu bệnh nhân có những vấn đề về tâm lý như trầm cảm, lo âu... Vì vậy, người bệnh cần thực hiện các phương pháp chống stress như tập thể dục, tập dưỡng sinh (thở bằng bụng, vận dụng cơ hoành, ngồi thiền, tập yoga).


Viêm loét dạ dày tá tràng

Ở Việt Nam 10% dân số bị viêm loét dạ dày, tá tràng mạn tính, những người nhóm máu O chiếm tỷ lệ cao nhất (43%), nhóm máu AB thấp nhất (2%).
Loét dạ dày là chứng bệnh dạ dày bị “ăn mòn” hoặc gặp phải những tổn thương. Bệnh này nếu không được phát hiện và điều trị sớm sẽ dễ dẫn đến ung thư. Tuy nhiên, vẫn có những giải pháp để ứng phó.

Ai dễ bị bệnh này?

Loét dạ dày không loại trừ ai, tuy nhiên nữ giới thường dễ mắc hơn nam giới. Bệnh có thể “tấn công” bạn nếu tìm thấy ở bạn môi trường và điều kiện tiềm năng. Người mắc chứng loét dạ dày sẽ có triệu chứng dễ nhận biết như đau rát vùng giữa hoặc phần bụng dưới, nôn, buồn nôn, ợ nóng. Cảm giác đau đớn sẽ càng dữ dội hơn khi đói bụng và sẽ thuyên giảm vào ban đêm.

Nguyên Nhân mắc bệnh viêm loét dạ dày là gì?

Các nguyên nhân gây bệnh:
• Chế độ ăn quá nhiều chất kích thích, thức ăn quá chua, quá cay, quá nóng; chế độ ăn thiếu dinh dưỡng kéo dài; nghiện rượu, thuốc lá.
• Do thuốc và các hóa chất, thường gặp là acid, bụi kim loại, các loại thuốc giảm đau, kháng viêm, corticoid
• Do nguyên nhân thần kinh, thường gặp ở người hay lo lắng, sợ hãi, làm việc quá căng thẳng
• Do nguyên nhân nội tiết đái tháo đường, hạ đường huyết, xơ gan…
• Vệ sinh kém hoặc sống trong môi trường vệ sinh kém.
• Ăn uống không đảm bảo: thức ăn chưa chin, nước không được đun sôi

Triệu chứng của bệnh viêm loét dạ dày như thế nào?


• Biểu hiện thường gặp nhất là đau vùng thượng vị. Triệu chứng đau thường liên quan tới bữa ăn từ 30 phút – 2 giờ, đau có thể xuất hiện khi đói hoặc nửa đêm về sáng. Có khi chỉ biểu hiện bằng cồn cào, ăn vào thì dịu đi. Đau bụng có thể xuyên ra sau lưng, đau lan sang phải.
• Đau còn có tính chu kỳ: đau khoảng 2-8 tuần kể cả không điều trị gì thì triệu chứng đau cũng giảm, sau đó sẽ có đợt đau tái phát.
• Có những bệnh nhân xuất hiện ợ hơi, ợ chua, nóng rát vùng thượng vị.
• Giảm cân không rõ nguyên nhân
• Khoảng 20% bệnh nhân bị loét dạ dày – tá tràng nhưng không hề có triệu chứng, mà người bệnh vào viện vì các biến chứng như: xuất huyết tiêu hóa, thủng dạ dày, hẹp môn vị hoặc nội soi kiểm tra mới phát hiện ra bệnh.

Viêm loét dạ dày có biến chứng gì?


- Hẹp nôn vị: biểu hiện đau bụng & nôn ói rất dữ dội, đặc biệt bệnh nhân ói ra thức ăn của ngày hôm trước, có mùi hôi thối.
- Thủng dạ dày: bệnh nhân đột ngột có cơn đau dữ dội như dao đâm, bụng gồng cứng như gỗ, phải được phẫu thuật kịp thời nếu không sẽ nguy hiểm cho tính mạng.
- Xuất huyết tiêu hóa: là biến chứng thường gặp nhất biểu hiện ói ra máu & đi cầu phân máu có thể máu đỏ, hoặc phân có màu đen hôi thối.
- Ung thư dạ dày: Ung thư DD là một dạng ung thư rất thường gặp, chiếm vị trí hàng đầu trong các ung thư đường tiêu hóa, và cũng là một trong những biến chứng của các bệnh lý lành tính ở dạ dày mà không được điều trị hoặc điều trị không đến nơi đến chốn.

Nguyên Tắc điều trị viêm loét dạ dày như thế nào? 
- Giảm yếu tố gây loét
- Tăng cường yếu tố bảo vệ niêm mạc
  Ngoài việc uống thuốc điều trị duy trì, đối với các bệnh nhân loét dạ dày – tá tràng, chế độ ăn là một phần của các yêu cầu điều trị và một chế độ ăn đúng cũng góp phần tích cực vào kết quả điều trị

Nguyên Tắc Ăn Uống cho Người Bệnh Viêm Loét Dạ Dày như thế nào?

1. Ăn chậm, nhai kỹ luôn là “khẩu hiệu hàng đầu” để bảo vệ dạ dày tránh được những rắc rối như đau, viêm, loét, ung thư… Sau khi ăn, đừng vội vận động ngay, nên ngồi nghỉ ngơi thư giãn khoảng một giờ. Nên chia nhỏ các bữa ăn để không tạo nên sức ép làm việc nặng nề với dạ dày. Có thể ăn 4 - 5 bữa mỗi ngày. Nên ăn nhẹ vào bữa tối.
2. Sinh hoạt, ăn uống nên có quy luật, kỵ ăn nhanh uống nhanh và không đúng giờ giấc.
3. Chú ý vệ sinh thực phẩm, kiên quyết không để cho vi sinh vật ở thế giới bên ngoài xâm nhập và làm nguy hại đến niêm mạc dạ dày.
4. Dung nạp những thực phẩm giàu chất dinh dưỡng nhưng thanh đạm, ít ăn thực ăn chứa nhiều chất béo, cay, ngọt, hạn chế uống rượu và trà đặc.